Cho thuê áo dài cưới, bưng quả, lễ tân, áo dài chụp ảnh, áo dài cho mẹ, vest nam, áo bà ba, trang phục kỷ yếu số lượng lớn nhất TPHCM

Image Slider

3 hướng dẫn chọn áo dài bưng quả đúng GU

Trong ngày cưới trọng đại của cuộc đời mình thì ngoài chú ý đến nhân vật chính của buổi lễ đó chính là cô dâu & chú rể thì trang phục của đội bưng quả cũng được sự quan tâm không kém của các qua khách. Đa số các cô dâu chú rể thường chọn những chiếc áo dài truyền thống để cho buổi lễ có phần trang trọng hơn. Tuy nhiên khi chọn áo dài bưng quả cần phải lưu ý điều gì để ngày vui của cô dâu chú rể được trọn vẹn. Hãy cùng tham khảo một vài thông tin mà chúng tôi gởi đến cho bạn nhé.

1. Áo dài bưng quả có chất liệu như thế nào cho đúng?

Có thể tùy vào từng hoàn cảnh và tính chất long trọng hay thân mật của buổi lễ ăn hỏi mà các cặp đôi có thể chọn lựa những chất liệu cho áo dài bưng quả cầu kỳ hay đơn giản. Nếu lựa chọn chiếc áo dài bưng quả cầu kỳ thì có thể chọn những chiếc áo dài bưng quả có đính cườm lấp lánh, hay những chiếc áo kết đá ren sáng chói. Còn nếu bạn muốn đơn giản thì có thể sử dụng áo dài bưng quả trơn hoặc hỉnh đính nhẹ một vài hạt ngọc trai giả xung quanh cổ áo.
Về chất liệu thì thường những buổi lễ cưới, ăn hỏi thường diễn ra vào buổi sáng – trưa vì thế khá nóng nực nên bạn ưu tiên lựa chọn những trang phục có độ mỏng nhẹ cho dàn bưng quả của mình. Hiện nay, khá nhiều người chọn lựa việc sử dụng áo dài hơi cách tân một xíu tức là họ thiết kế phần tay lững, kết hợp ren hay ngăn tayđang rất được ưa chuộng vì không chỉ mang lại nét kiêu sa mà còn tạo được sự thoải mái, tự nhiên trẻ trung khi di chuyển , và góp phần tạo không khí tươi trẻ, tràn đầy sức sống cho buổi lễ.
Bên cạnh đó, dáng người của các đội bưng quả cũng là yếu tố mang tính quyết định trong việc lựa chọn chất liệu của áo dài. Nếu sở hữu đội hình hơi mũm mĩm, bạn có thể tham khảo chất liệu voan, chiffon hay ren với kiểu dáng không quá ôm sát để tránh việc lộ thân hình, và tạo nét thon gọn cho đội bưng quả. Còn những loại vải có độ bóng và óng ánh sẽ là gợi ý tuyệt vời cho đội bưng quả có dáng người cao gầy.

2. Áo dài bưng quả có màu sắc như thế nào?

Màu sắc của những chiếc áo dài bưng quả là yếu tố quan trọng cần để ý đến đầu tiên khi đi thuê áo dài bưng quả. Màu sắc nhã nhặn và ý nghĩa sẽ là yếu tố đầu tiên gây được ấn tượng với các vị khách mời. Cô dâu có thể tham khảo những gam màu như vàng, đỏ, hồng, trắng, hay tím lãng mạn cho đội bưng quả.
Khi thuê  áo dài bưng quả thì bạn cũng cần chú ý đến màu sắc của chiếc áo dài bưng quả. Vì màu sắc là một trong những yếu tối quan trọng để giúp bạn có thật sự nổi bật trong dài bưng quả hay không. Việc lựa chọn một chiếc áo dài bưng quả với màu sắc nhã nhặn luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các cặp đôi. Các cô dâu chú rể có thể tham khảo nhưng gam màu nhã nhặn như trắng, vàng, đỏ dâu, hay xanh da trời, hoặc tím nhạt lãng mạn cho đội bưng quả của mình.
Nếu cô dâu đã chọn màu đỏ, bạn có thể tham khảo các tông màu nhã nhặn như hồng, tím nhạt, vàng đồng hay kem. Còn những tông màu nổi bật như xanh lá cây, vàng tươi, xanh đậm sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo khi tân nương chọn áo dài với sắc trắng tinh khôi, thanh lịch.
Một lưu ý nữa mà các cô dâu chú rể cũng cần lưu tâm đó chính là khi chọn thuê áo dài bưng quả thì lựa chọn sao cho màu sắc phải hài hòa với áo dài cưới của cô dâu chú rể và theo tông màu trang trí lể ăn hỏi đã định sẵn. Tránh tối đa tình trạng áo dài bưng quả chọi màu với áo dài cưới của cô dâu chú rể, việc này chỉ làm cho đội hình trở nên kệch cỡm. Vì vậy cần khéo léo và dành một chút sự đầu tư cho khâu chuẩn bị này, để tránh tình trạng đội hình bưng quả của bạn có thể sẽ đánh mất nét cuốn hút và sự duyên dáng vốn có.

3. Áo dài bưng quả có họa tiết như thế nào?

Sau khi tham khảo qua các khâu lựa chọn trên, họa tiết áo dài bưng quả sẽ là khâu lựa chọn cuối cùng mà các nàng dâu mới không nên bỏ qua. Cũng tương tự như lựa chọn màu sắc, họa tiết đồng phục bưng quả cũng nên nương theo trang phục của hai nhân vật chính.
Họa tiết sẽ là điểm cuối cùng cần lưu ý nhưng cũng không kém phần quan trọng trong việc lựa chọn áo dài bưng quả. Có thể thuê áo dài bưng quả vải trơn không họa tiết hoặc áo dài có họa tiết nhẹ nhàng, tránh cầu kỳ. Một mẹo nhỏ cho các nàng là hãy tham khảo những loại vải ren đã được thiết kế sẵn hoa văn sẽ tạo sự thuận tiện cho bạn khi kết hợp cả hai khâu lựa chọn chất liệu và họa tiết.

Tìm hiểu về tục nhuộm răng của người Việt xưa

Theo quan niệm thẩm mỹ xưa thì hàm răng đen được coi là chuẩn mực của cái đẹp không chỉ riêng đối với phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng vậy, tuy ở nam giới ít hơn. Do đó, vẻ đẹp của hàm răng đen đã dần được đưa vào ca dao, thi ca như một chuẩn mực về nét đẹp của phụ nữ Việt Nam:

Răng đen ai nhuộm cho mình
Cho duyên mình đẹp, cho tình anh say?

Được xếp thứ 4 trong 10 chuẩn mực đo nét duyên của người con gái:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua.

Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm ra đời trong hoàn cảnh nhà thơ nghe tin giặc Pháp tàn phá quê hương, bao hình ảnh thân thương của làng quê đang bị quân giặc giày xéo hiện lên trong trí óc nhà thơ, trong đó có nụ cười của cô gái Kinh Bắc:

Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.

Không chỉ là chuẩn mực của cái đẹp, tục nhuộm răng đen trở nên phổ biến đến nỗi được coi là chuẩn mực đạo đức. Trong xã hội bấy giờ, người ta cho rằng người nào răng trắng là người không tử tế: “Song tục quen đã lâu, đàn ông trắng răng thì chẳng sao, chứ đàn bà nhà tử tế bây giờ mà trắng răng thì coi cũng khí ngộ một đôi chút” (1). Phan Khôi cũng từng dẫn lời của một nhà báo lấy biệt hiệu là Lư Sơn Chơn Tướng về vấn đề này: “Tôi từng đi đủ Trung – Bắc hai kỳ, tôi thấy những nhà thi lễ, tức là bậc thượng lưu trong xứ, thì đàn bà con gái của họ cũng đen răng, cho như thế là trang nghiêm mỹ lệ; còn trái lại, răng trắng thì cho là đồ ăn chơi đĩ thõa. Coi đó thì biết cái tục răng đen của người Nam là từ các đấng tiên dân bày ra và đã lâu đời lắm rồi, chẳng những cho là đẹp mà cũng lấy đó tỏ ra là nề nếp con nhà nữa…. Khắp nước Việt Nam, trừ xứ Nam kỳ ra, thì tôi thấy đâu đâu đàn bà con gái cũng đen răng hết, duy có những hạng vợ tây, vú, bồi, bếp gái ở với Tây thì mới hay để răng trắng mà thôi, thế thì cái tục ấy xấu tốt thế nào cũng đủ biết” (2).

Do lẫn lộn tục ta với tục của Tàu, Tú Lan cho rằng tục nhuộm răng của ta là từ Trung Quốc truyền sang, do thời đó người Trung Quốc vì không muốn người Nam lẫn với người Tàu, vì sợ thành ra bình đẳng thì khó bề cai trị đè nén, bởi vậy mà họ bắt buộc người Nam phải nhuộm răng cho phân biệt. Tuy nhiên, cũng có người không tán đồng quan điểm trên, trích lời Lư Sơn Chơn Tướng để cải chính lại: “Ở bên Tàu chúng tôi, những người nào chưa hề bước chơn qua đất nầy thì chẳng bao giờ ngờ được rằng người An Nam có răng đen. Hoặc giả có người nghe nói tục đó, rồi khi gặp người Hoa kiều nào ở bên nầy về, đến nỗi đem mà hỏi nhau rằng: “Người An Nam đen răng, có phải là trời sanh ra như vậy không?” Còn như thứ thuốc gì mà nhuộm cho đen răng, thì thật họ tịt mù, chẳng hề ai biết tới. Huống chi người Tàu chúng tôi đã vốn không có tục nhuộm răng, lại cũng không hề biết đến cái tục ấy nữa” (3).

Có nhiều người lại nhập nhằng giữa tục nhuộm răng đen và tục ăn trầu, họ cho rằng do ăn trầu nên răng mới đen chứ không xem răng đen là một phong tục riêng của người Việt: “Người Tàu cho rằng vì ăn trầu mà sinh ra tục nhuộm răng. Phần nhiều người Châu Âu tiếp xúc với người Việt Nam từ TK XIX trở về trước cũng cho rằng vì ăn trầu cho nên răng thành đen” (4). Tuy nhiên, cũng đã khẳng định: “Thực ra tục ăn trầu và tục nhuộm răng không có quan hệ gì với nhau, duy hai tục ấy đều khiến cho răng thành vững chắc” (5). Như vậy, cần phải khẳng định rằng, răng đen không phải là do ăn trầu. Bởi người ăn trầu mà không nhuộm răng thì răng có màu đỏ sẫm chứ không đen nhánh. Do đó, tục nhuộm răng đen là một nét văn hóa thể hiện quan niệm về cái đẹp của người Việt. Để có được hàm răng đen nhánh hạt huyền thì người ta cần phải trải qua nhiều công đoạn nhuộm công phu và cũng không kém phần gian nan chứ không phải do ăn trầu mà có.

Các công đoạn nhuộm răng đen


Theo phong tục người Việt, người ta chỉ bắt đầu nhuộm răng khi đã thay xong lượt răng sữa, đã có một số răng hàm. Không chỉ nữ giới nhuộm răng mà nam giới cũng nhuộm răng.

Nhuộm răng thường được chia làm 4 công đoạn:

Đầu tiên là phải làm sạch răng, thường kéo dài 3-5 ngày. Sau mỗi bữa ăn, người nhuộm răng phải đánh sạch răng bằng vỏ cau khô, có nơi còn dùng bột than củi. Sau đó xúc miệng kỹ bằng nước có tính axit mạnh như chanh hay dấm. Người Huế thì ngậm nước nấu từ lá cây sôn (một loại lá có vị chua). Trước khi đi ngủ có thể ngậm thêm vài lát chanh mỏng. Các biện pháp này đều có tác dụng làm sạch răng, axit sẽ làm mỏng bề mặt ngoài của men răng, giúp thuốc nhuộm dễ kết bám hơn.

Tiếp theo là công đoạn nhuộm đỏ răng. Người ta dùng bột nhựa cánh kiến tán nhỏ, vắt chanh vào rồi để kín trong 7 ngày cho chất chua của chanh thấm vào bột cánh kiến. Có thể thay chanh bằng giấm gạo hoặc rượu gạo. Dùng hỗn hợp này quết vào mảnh lá dừa hoặc lá cau, đợi lúc đi ngủ áp vào hai hàm răng. Làm nhiều lần như vậy cho đến khi màu cánh kiến ăn dần vào răng, màu răng chuyển dần sang đỏ thẫm là được.

Sau khi răng lên màu đỏ như ý muốn, người ta bắt đầu công đoạn nhuộm đen. Lúc này vẫn dùng bột cánh kiến, nhưng hòa với phèn đen, rồi cũng quết hỗn hợp này lên lá dừa hoặc lá cau, đợi khi đi ngủ thì áp vào răng. Lần nhuộm đen chỉ cần độ 2 đêm là được.

Cuối cùng là công đoạn chiết răng. Công đoạn này có tác dụng giữ màu đen cho răng. Người ta lấy gáo dừa già đã phơi khô để lên con dao rồi đốt cho gáo dừa chảy ra thứ nhựa đen sền sệt, rồi lấy nhựa đó phết vào răng, răng sẽ có màu đen bóng và lâu phai.

Trong giai đoạn nhuộm răng, người nhuộm răng không những phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, mất nhiều thời gian, công sức mà còn phải chịu đau đớn về thể xác. Vì thuốc dùng để nhuộm răng là những chất nồng, cay nên thường làm cho môi, lưỡi, lợi của người nhuộm bị sưng tấy khiến người nhuộm rất vất vả trong ăn uống. Bên cạnh đó, để tránh làm phai màu thuốc lúc thuốc vẫn chưa bám chặt vào răng, trong quá trình nhuộm, người nhuộm răng phải kiêng khem đủ thứ, không được ăn đồ nóng, cứng, đôi khi ăn mà không dám nhai, chỉ dám nuốt chửng, thường là chỉ ăn những thức ăn mềm lỏng như cháo, bún,… Đợi đến khi chiết răng xong thì họ mới dám ăn lại bình thường.

Răng tuy đã chiết rồi, màu đã bám chắc rồi nhưng theo thời gian thì màu răng có thể sẽ bị phai bớt. Do đó người ta cần phải nhuộm lại. Đàn ông thì nhuộm lại độ 1,2 lần, còn phụ nữ thì mỗi năm nhuộm lại một lần, đến độ qua 30 tuổi cũng không nhuộm lại nữa.
Tục nhuộm răng thời bấy giờ được ưa chuộng đến mức trở thành một nghề để kiếm sống. Ngày xưa, ở nông thôn lẫn thành thị đều xuất hiện những thày nhuộm răng. Các thày nhuộm răng thường đi từ làng này sang làng khác để hành nghề, thường nhuộm tại nhà gia chủ. Ở thành thị như ở kinh đô Huế thì thày nhuộm thường hành nghề ở một địa điểm cố định, người nhuộm răng thường ăn ở tại nhà thày nhuộm trong quá trình nhuộm. Một số nhà thày nhuộm còn chuẩn bị cả những tiết mục mua vui để phục vụ người đến nhuộm răng.

Lịch sử tục nhuộm răng đen của người Việt


Theo nhiều tài liệu ghi chép lại thì tục nhuộm răng đen của người Việt có từ thời sơ sử (cách đây 4000 năm), giai đoạn hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc. “Người Văn Lang có thói quen ăn trầu, nhuộm răng đen” (6) và “cư dân Văn Lang, Âu Lạc đều có ý thức cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên, một tập quán chung là nhuộm răng, ăn trầu” (7). Trong phần diện mạo văn hóa Đông Sơn có viết: “Tục ăn trầu, nhuộm răng đen và tục xăm mình rất phổ biến” (8). Hoặc Trần Quốc Vượng có đề cập: “Phong tục tập quán của người Đông Sơn rất đa dạng ví như tục nhuộm răng, ăn trầu” (9). Đặc biệt là trong các mộ thuyền, các nhà khảo cổ học Việt Nam tìm thấy người Đông Sơn đều nhuộm răng đen. Năm 1999, Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở VHTTDL Vĩnh Phúc đã tìm thấy bộ di cốt tại di chỉ Đồng Đậu thuộc Yên Lạc, Vĩnh Phúc còn gần như nguyên vẹn, khoảng 3500 tuổi, có dấu vết của tục nhuộm răng đen.

Đến thời Bắc thuộc, tục nhuộm răng đen vẫn còn được duy trì: “Do đã bắt rễ sâu vào các công xã nông thôn thời Văn Lang, Âu Lạc nên trong thời Bắc thuộc nói chung các phong tục tập quán của người Việt vẫn được duy trì và có sức sống mạnh mẽ. Cùng với tục dùng trống đồng, nhiều tục lệ cổ truyền khác vẫn được bảo tồn, như tục cạo tóc hay búi tóc, tục xăm mình, tục nhuộm răng, ăn trầu” (10). Khi nói về cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ các di sản văn hóa cổ truyền thời Bắc thuộc, có tác giả ghi: “Nhiều phong tục tập quán tốt đẹp của thời kì Văn Lang, Âu Lạc vẫn được giữ gìn như tục nhuộm răng, ăn trầu” (11). Trong giai đoạn này, tục nhuộm răng cùng với một số tục lệ khác như ăn trầu, xăm mình, búi tóc, …được xem là nét văn hóa đặc trưng góp phần định hình bản sắc văn hóa người Việt để phân biệt với các dân tộc khác. Do đó, mặc dù trải qua ngàn năm Bắc thuộc, chịu áp lực trước chính sách đồng hóa nặng nề của người phương Bắc, người Việt vẫn cố giữ gìn nét văn hóa riêng của dân tộc mình. Đến tận TK XVIII, năm 1789, trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Quang Trung đã kêu gọi đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng nhằm đấu tranh giành quyền để tóc dài, răng đen cho nhân dân, bảo vệ phong tục cổ truyền của dân tộc. Điều đó chứng tỏ, đến tận cuối thời nhà Lê, dân ta vẫn còn rất coi trọng tục nhuộm răng đen. Thời Hậu Lê, tục nhuộm răng không chỉ phổ biến ở nữ giới, mà còn ở nam giới, không chỉ phổ biến trong tầng lớp bình dân mà còn phổ biến trong cả giới quý tộc, hoàng gia. Bằng chứng là nhiều ngôi mộ được các nhà khảo cổ khai quật có vết tích của tập tục này như: ngôi mộ của vua Lê Dụ Tông (1705 -1728) vị hoàng đế thứ 11 của nhà Lê được phát hiện, khai quật vào năm 1964; xác ướp của bà Phạm Thị Đằng phu nhân của quan thượng phụ Đặng Đình Tướng (1649 – 1735) được tìm thấy ở Nam Định năm 1968; hoặc một xác ướp nữ có niên đại 300 năm được phát hiện tại Hà Nội năm 2013… đều được các nhà khảo cổ xác nhận là có dấu tích của tục nhuộm răng đen.

Tuy nhiên, đến cuối TK XIX, nhất là những năm đầu của TK XX, trước sự xâm nhập mạnh mẽ của nền văn minh phương Tây, Việt Nam bước vào thời kỳ biến đổi xã hội sâu sắc. Phong trào Âu hóa và phong trào đòi nữ quyền diễn ra rầm rộ.

Nhiều phụ nữ bắt đầu có xu hướng chuộng hàm răng trắng, có người còn cạo đi hàm răng đen mà mình mất bao công sức nhuộm cốt chỉ để trở thành hình tượng người phụ nữ mới tham gia vào công cuộc cải cách xã hội. “Có người đã nhuộm răng đen rồi lại đem đánh trắng đi cho hợp với cuộc sinh hoạt mới” (12). Thậm chí thời bấy giờ ai còn để tóc củ hành, răng đen, áo the, quần vải thì bị coi là hủ lậu, kém văn minh, “tại các thành thị, do ảnh hưởng của làn sóng Âu hóa những năm 1930-1940, nam giới đã bắt đầu cắt tóc ngắn và thôi nhuộm răng đen” (13). Nếu như trước đây hình thành nghề nhuộm đen răng thì thời này xuất hiện nghề cạo trắng răng.

Như vậy, tục nhuộm răng đen vẫn còn tồn tại mãi cho đến TK XX thì người Việt mới dần dần phá bỏ tục lệ này. “Kể từ năm 1945 tới nay, tục nhuộm răng hầu như mất dần. Người ta chỉ gặp những người răng đen cỡ tuổi đã rất cao” (14).

Năm 2013, có ý kiến phản ánh điện ảnh Việt Nam không tôn trọng lịch sử khi không đưa hình ảnh hàm răng đen vào phim Việt. Tác giả bài viết cũng mạnh dạn khẳng định rằng: “Chúng ta có quyền sáng tạo để lịch sử hay hơn, sinh động hơn dưới góc nhìn của thế hệ hôm nay. Nhưng có những điều thuộc về bản sắc dân tộc thì phải kiên quyết giữ. Không ít người cho rằng, bản sắc rõ nhất của người Việt từ ngàn năm nay là tục nhuộm răng đen. Nếu làm phim lịch sử mà diễn viên không có hàm răng đen thì không tôn trọng lịch sử” (15). Đó là một dấu hiệu đáng mừng cho thấy tục nhuộm răng đen tuy không còn hiện hữu trong đời sống thường ngày nhưng vẫn được lưu giữ lâu dài và đậm nét trong ký ức người Việt, bởi văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi (Edouard Herriot).

Trải dài theo mấy nghìn năm lịch sử, nhuộm răng đen là một trong những phong tục cổ truyền góp phần định hình bản sắc văn hóa người Việt. Hiện nay, tục nhuộm răng đen hầu như đã không còn tồn tại trong văn hóa người Việt, có chăng là ở những người thật lớn tuổi, họ nhuộm răng từ thuở nhỏ, còn lưu dấu đến bây giờ. Thế nhưng ở Việt Nam, mặc dù đã có nhiều mai một nhưng tục lệ này vẫn còn tồn tại ở một số dân tộc như người Mường ở Hòa Bình, người Lự ở Lai Châu. Một phong tục cổ truyền mất đi, ta cũng không thể trách những người đã thay đổi, vì quan niệm mỗi thời mỗi khác, quan niệm về cái đẹp cũng không ngoại lệ. Cũng bởi văn hóa chẳng bao giờ bất biến, không có nền văn hóa nào chịu đứng yên một chỗ, nhất là khi nền văn hóa đó lại đang nằm trong vòng xoay của sự giao lưu và tiếp biến.

Nguyễn Thị Đoan Trang

5 Lưu ý trước khi bạn chụp ảnh với áo dài

5 Lưu ý trước khi bạn chụp ảnh với áo dài
5 Lưu ý trước khi bạn chụp ảnh với áo dài

Chụp rất nhiều khách, đa số khách đều có chung 1 câu hỏi:
"anh ơi em chưa chụp hình bao giờ không biết tạo dáng em sợ ảnh ko đẹp." "Em ơi chị không biết diễn" "em ơi chị hơi tròn lên hình xấu không"
Rất nhiều câu hỏi tự ti như thế....

Trước khi chụp bạn nên nói chuyện với nhiếp ảnh gia đó là điều kiện quan trọng nhất, nếu không giải tỏa được tâm lý thì mình sẽ không chụp dc.

Cá nhân mình quan niệm và cố giải thích với các chị/em thế này.
- Đầu tiên hình ảnh up lên page là hình của khách hàng chứ ko phải người mẫu vì vậy khả năng cao khách hàng đã tin tưởng thì ảnh sẽ được như thế ko phải đắn đo.
- Thứ 2: Mỗi chúng ta là một cá thể duy nhất trên thế giới này, không cần biết bạn thế nào. Nhưng đứng trước photo trong thời điểm đó chắc chắn các bạn phải là người đẹp nhất và hãy thể hiện điều đó.
- Thứ 3: Ảnh của bạn thì đó là bạn chứ ko phải hao hao giống bạn hay hao hao giống cô người mẫu hay hoa hậu nào đó. Bạn vẫn sẽ đẹp theo cách của bạn mà ko cần phải so sánh hay làm hài lòng ai cả.
- Thứ 4: Bạn chụp hình để làm gì ? có phải để lưu lại khoảnh khắc tươi đẹp của thanh xuân trong trang phục truyền thống. Để sau này có cái nhắc lại với mọi người hay con cháu bạn đã từng như thế không ?
- Thứ 5: Bạn đừng quan tâm tới cái máy ảnh hay người đứng sau nó mà hãy chỉ nhìn người ấy và thể hiện tình cảm chắc chắn ảnh của bạn sẽ cực kì đẹp và giàu cảm xúc.

Còn điều gì chị/em  băn khoăn nữa không ? hãy cho   mình biết. Đừng ngại inbox . Chỉ cần thấu hiểu thôi, điều đó sẽ giúp shop hoàn thiện mình hơn trong dịch vụ.


ÁO DÀI CƯỚI CAO CẤP CHO CÔ DÂU

ÁO DÀI CÔ DÂU VOAN CAO CẤP

Với chất liệu vải voan , lụa cao cấp , người thợ xuất sắc của Áo dài CÔ SÁU đã may ra những chiếc áo dài theo phom dáng cực chuẩn , che những khuyết điểm của khách hàng như tạo cho vòng eo nhỏ hơn, và dựng phom ngực kiểu mới giúp vòng 1 đầy đặn hơn.
Phối hợp thêm là nhóm thợ kết hoa 3D và hạt pha lê giúp chiếc áo dài thêm lung linh.
Đây là dòng áo dài cưới đang được định giá hàng chục triệu đồng tại Sài Gòn.
Giá áo bán áo dài cô dâu chỉ từ 1tr đến 2 trieu , bao chỉnh sửa miễn phí vừa số đo cô dâu


BST Áo dài nam với bổ tử

Nhằm đa dạng những thiết kế của mình ÁO DÀI CÔ SÁU không còn đóng khung hình ảnh trong với váy áo hay áo dài dành cho nữ mà còn có thể thực hiện được những trang phục dành cho nam như áo dài. Năm mới là dịp làm đẹp của tất cả mọi người không chỉ riêng nữ giới. Hy vọng những thiết kế mới này sẽ giúp phái mạnh có thêm nhiều lựa chọn hơn trong mùa Tết sắp đến


Điểm độc đáo trong bộ trang phục ÁO DÀI Nam là ngoài áo dài may truyền thống còn có những mẫu áo dài nam sự kết hợp độc đáo của form áo vest với áo dài truyền thống của nam. Đây không chỉ được coi như một sự sáng tạo mà còn  cho áo dài Việt thêm phần mạnh mẽ và lịch lãm.

Ngoài ra, loạt trang phục này còn gây ấn tượng với bổ tử: hình chim hạc, rồng tượng trưng cho bậc nam nhi đạin trượng phu thời xưa 





Nguồn gốc của các loại vải thường dùng trong may mặc

Bí kíp cho các bạn tham khảo khi tìm hiểu và chọn vải, đặc biệt là khi may ÁO DÀI, cần rất nhiều lớp vải hoặc vải xếp li, cần lựa chọn phù hợp để mặc không bị nóng hay khó chịu.

Nguồn gốc của các loại vải thường dùng trong may mặc
🌟1. Vải sợi thiên nhiên.
Nguồn gốc và phân loại.
Đây là loại vải được làm từ các sợi có sẵn trong thiên nhiên.
Từ động vật như các sợi tơ tằm, sợi len của cừu, dê, lạc đà, vịt.
Từ thực vật như là các sợi của cây đay, gai, bông lanh.
Vải sợi thiên nhiên được chia làm 2 loại:
– Vải sợi bông.
– Vải sợi tơ tằm.
Quy trình sản xuất sợi bông và tơ tằm.
Tính chất.
Vải có độ hút ẩm cực kỳ cao, lúc mặc mang đến cảm giác mát mẻ. Nhưng vải lại dễ bị nhăn, kém độ bền, giặt thì lâu khô.
🌟2. Vải sợi hóa học.
Nguồn gốc và phân loại.
Vảo sợi hóa học được làm từ các sợi do con người tạo ra được lấy từ các mỏ than đá, dầu mỏ, gỗ, tre, nứa.
Vải được chia làm 2 loại, sợi tổng hợp và vải sợi nhân tạo.
Quy trình sản xuất vải sợi nhân tạo và vải sợi tổng hợp.
Tính chất.
Vải sợi nhân tạo có độ hút ẩm cao nên có thể mang đến cảm giác thoáng mát khi mặc. Nhưng ít nhàu và cứng lại trong nước.
Vải sợi tổng hợp thì lại có độ hút ẩm kém nên khó thoát mồ hồi khi mặc. Tuy nhiên rất bền và đẹp, giặt mau khô và không bị nhàu.
🌟3. Vải sợi pha.
Nguồn gốc.
Vải sợi pha này thường được làm từ sự kết hợp của hai hay nhiều loại vải sợi khác nhau tạo thành.
Tính chất.
Thì vải có nhiều ưu điểm do được sự kết hợp của các loại vải sơi với nhau. Như vải có khả năng hút độ ẩm cao, mặc thoáng mát. Khi mặc cực kỳ đẹp, bền và không bị nhàu.
🌟4. Phân biệt các loai vải.
– Vải sợi thiên nhiên rất dễ bị nhàu, khi đốt vải thì tro bóp dễ tan.
– Vải sợi nhân tạo thì ít bị nhàu, khi đốt vải thi tro bóp dễ tan.
– Vải sợi tổng hợp thì không hề bị nhàu và tro vón cục bóp không tan.
🌟5. Các đọc thành phần của các sợi vải.
Trên áo quần thường có các băng vải nhỏ. Dựa vào băng vải này bạn phân biệt được loại vải.
Ví dụ như:
Nilon, polyester: Sợi tổng hợp.
Cotton: Sợi bông.
Viscose, acetate: Sơi nhân tạo.
Silk: Tơ tằm.
Line: Lanh.
Wool: Len.


Nguồn: maymacthuongtin.com

ÁO DÀI KHĂN ĐỐNG NHỮNG ĐIỀU CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

Chỉ cần nhìn bằng con mắt của một người có trình độ văn hóa bình thường, cũng đủ nhận thấy sự lỗi thời của cái mốt "khăn đóng áo dài" của đàn ông Việt Nam, nhất là ở thời đại ngày nay. Sự lỗi thời đó nằm ở trên cả hai mặt: mỹ thuật và ý nghĩa biểu trưng.
Đứng về mặt mỹ thuật, tôi chưa từng thấy một bộ y phục dân tộc đàn ông nào, được coi gần như là "quốc phục", mà trông lại xấu đến thế! Nó gần với  một bộ "đồng  phục", hơn là một bộ y phục thông thường, bởi nó gồm bốn bộ phận gần như  "bất di bất dịch", không thể thay đổi được, đó là: chiếc áo dài (màu và vật liệu có thể thay đổi tùy theo trường hợp, nhưng cũng chỉ giới hạn ở ba màu chính: đen (thâm), trắng, và xanh lam; còn vật liệu có thể là: vải, lụa, the, nhiễu, hay gấm); chiếc khăn xếp (thường thường là màu đen, có thể được thay thế bằng chiếc khăn quấn bằng nhiễu); chiếc quần ta, hay quần ống sớ, bằng vải, hay lụa trắng; cuối cùng, là đôi giầy Gia Định bằng da láng màu đen.

 
Chiếc áo dài phụ nữ hồi đầu thế kỷ
Tuy thực chất chỉ là một bộ "thường phục", nhưng nó lại hay được sử dụng trong những dịp lễ lạc, hay giao tiếp long trọng, bởi hầu hết các tầng lớp trong xã hội, từ các vị chức sắc cho đến người dân thường; từ ông thầy đồ làng cho đến các cậu học trò nhỏ tuổi. Thậm chí, các "liền anh" Quan Họ cũng đã bị cái mốt này chinh phục. Đứng bên cạnh chiếc áo tứ thân của các "liền chị", trông các "liền anh" quả là cứng nhắc, không tự nhiên chút nào.
Điều đó có ý nghĩa gì ?
Phải chăng, bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" tượng trưng cho sự tôn trọng cái bề ngoài ngăn nắp của một xã hội phong kiến, cái tính cách nghiêm cẩn ngoài mặt của một cá nhân, có giá trị đối với tất cả mọi người? Bộ đồng phục ấy, không  những vừa che kín được thân xác, mà đồng thời lại vừa che lấp đi được phần nào những khác biệt về mặt đẳng cấp giữa các cá nhân trong xã hội? Phải chăng, đó cũng là một cách mị dân? Có lẽ cũng vì thế mà trong một thời gian dài, ít nhất vài ba thế kỷ, nó đã được sử dụng một cách phổ biến từ nông thôn đến thành thị, từ trong giới các nhà nho, các chức sắc, đến những người dân bình thường. Vô hình trung, người ta đã coi nó như một bộ "quốc phục".
Song, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi, kể từ Cách mạng tháng Tám. Cái ý nghĩa ước lệ xưa kia của bộ đồng phục "khăn đóng áo dài"  lẽ ra cũng phải mất đi, nhưng trên thực tế nó đã tồn tại dai dẳng cho đến ngày hôm nay. Ở một số nơi, trong nước cũng như ngoài nước, có những người vẫn coi đây là một bộ y phục "truyền thống", và cứ vào các dịp lễ lạc trong nhà, hay ngoài chỗ công cộng, ngay cả trên sân khấu, hoặc trên đài truyền hình, là lại lấy ra mặc và coi như thế là đúng khuôn phép đạo đức. Người ta không cần xét đến khía cạnh thiếu thẩm mỹ của nó. Bằng chứng là nhân dịp tổ chức Hội nghị APEC ở Hà Nội, người ta đã đem cái bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" đó ra để cho các nguyên thủ các nước mặc. Không những thế, lại còn áp dụng cả những ước lệ có từ thế kỷ XVIII về ý nghĩa tượng trưng của mỗi màu áo: màu vàng là dành cho nhà vua...
 
Đề Thám
Để thấy được đâu là những khuyết điểm của cái mốt "khăn đóng áo dài", chúng tôi thấy cần phải phân tích cả bốn bộ phận của nó: cái áo dài, cái khăn xếp, cái quần ống sớ, và đôi giầy Gia Định. Tuy nhiên, hai bộ phận đầu mới là chính, hai bộ phận sau chỉ là phụ, vì nằm khuất hơn, ít được nhìn thấy hơn.

Nguồn gốc của chiếc áo dài
Người ta thường tự hỏi nguồn gốc của chiếc áo dài từ đâu mà ra. Ở đây, ta hãy tạm thời không phân biệt chiếc áo dài nữ với chiếc áo dài nam, ít ra về mặt hình dạng, chứ chưa xét đến chất liệu vội, bởi trên thực tế, ở khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chiếc áo dài của phụ nữ thành thị vẫn chưa được chiết eo, và hình dạng không khác gì chiếc áo dài đàn ông. Có khác chăng, là chỉ về mặt chất liệu. Áo dài đàn ông thường bằng vải, lụa, the, hay gấm, và thường được gọi là: áo dài ta, áo the, hay áo gấm. Màu sắc của chiếc áo dài đàn ông, trừ áo gấm, cũng chỉ giới hạn ở các màu: đen, trắng, xanh lam. Còn áo dài phụ nữ có thể may bằng nhiều thứ vật liệu, từ vải, lụa, nhiễu, nhung, đến len, gấm..., với nhiều màu sắc, và nhiều chất liệu trang trí.
Nhìn những bức tranh Tố Nữ, hay tranh thờ đạo Mẫu, của dòng tranh Hàng Trống, ta thấy các cô Tố Nữ và Cô Ba, một thần linh của đạo Mẫu, đều mặc áo dài thuần túy Việt Nam. Xem như vậy, mẫu hình của chiếc áo dài cổ điển này phải có ít nhất từ khi có các tranh Tố Nữ và tranh thờ Cô Ba ở Hàng Trống, nghĩa là ít ra cũng phải từ thế kỷ XVIII, khi đạo Mẫu đã phát triển mạnh, ít ra ở vùng đất Thăng Long.

 Khăn quấn
Mặt khác, ở một vài ngôi chùa cổ nổi tiếng, như chùa Dâu, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (được xây dựng từ thế kỷ VI, sau được trùng tu bởi Mạc Đĩnh Chi ở thế kỷ XIV), trên điện thờ Bà Dâu, người ta nhận xét thấy trên hai pho tượng ngọc nữ đứng hầu ở hai bên, y phục mang những nét rất Việt Nam, chiếc áo dài bó lấy người, tuy không thấy rõ là có chiết eo hay không, nhưng có thắt lưng có dải bó người lại, và dáng dấp giống như chiếc áo tứ thân, hay áo tân thời của đời nay, xiêm áo hình cánh sen chùng tới gần gót chân. Chiếc khăn vấn tóc của hai ngọc nữ này cũng rất đáng chú ý. Đó có thể là hình tượng chiếc khăn vấn tóc truyền thống của người phụ nữ Việt Nam (với tiết diện tròn) còn được truyền mãi đến sau này. Nếu những pho tượng nói trên đã không bị hư hỏng, hoặc bị sửa lại từ thời ông Mạc Đĩnh Chi, thì rõ ràng niên đại của chúng phải ít nhất từ thế kỷ XIV, nếu không xưa hơn nữa. Cũng như bốn pho tượng ngọc nữ ở điện thờ chùa Keo (Thái Bình - đầu thế kỷ XVII) đều được tạc với áo dài cổ cao, thắt lưng có dải, và khăn vấn tóc.

Nguồn gốc của chiếc áo dài phụ nữ, có thể còn xa xưa hơn nữa, song vì thiếu tài liệu cụ thể, nên ta chưa thể biết hơn được. Nguồn gốc của chiếc áo dài đàn ông lại còn phức tạp hơn, vì không những ít tài liệu, mà lại có tới hai, ba kiểu áo khác nhau: có chiếc áo dài cổ điển vùng đồng bằng mà ta quen biết, lại có kiểu áo dài "Đề Thám", có thể là một phong cách địa phương của người vùng Yên Thế chăng, lại còn có áo thụng, tay áo rộng và dài. Trong cuốn sách "Huế, la cité impériale du Viet Nam" đã dẫn ở trên, có bức chân dung của vua Gia Long mặc áo thâm cổ cao, trông như áo dài ta. Như vậy truyền thống mặc áo dài ta của đàn ông có ít nhất từ cuối thế kỷ XVIII. Nhưng còn chiếc áo dài the của các "liền anh" Quan Họ thì có từ bao giờ? Điều đó ta chỉ có thể biết được, khi biết được niên đại chính xác của truyền thống Quan Họ, và khi nào thì các liền anh Quan Họ bắt đầu sử dụng chiếc áo dài the mà chúng ta biết.

 
Ngọc Nữ
Cái đẹp và... cái xấu của chiếc áo dài
Phải trải qua nhiều đợt cải tiến, chiếc áo dài phụ nữ mới có được cái diện mạo bay bướm, gợi cảm, như ngày hôm nay. Ta khỏi cần phải nhắc lại những chi tiết của các cuộc cải tiến này, chỉ cần ghi nhớ tên của ba người đã có công trong việc cải cách đó: người đầu tiên là nhà thiết kế mẫu Cát Tường, vào khoảng những năm 1932-1934 đã đưa ra những mẫu áo dài "tân thời" đầu tiên (áo Le Mur), mang nhiều ảnh hưởng của thời trang Pháp. Sau đó, ở Hội chợ Nữ công Đà Nẵng, năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đã đưa ra một mẫu áo có cải tiến thêm một bước nữa: vai không bồng, cổ kín, cài khuy bên phải, thân áo ôm sát người; áo may bằng vải màu, mặc với quần trắng, tóc búi lỏng, vấn trần, hay vấn khăn nhung. Cuối cùng, cũng vào những năm cuối thập niên 30 này, bà Trịnh Thị Thục Oanh, hiệu trưởng trường Hàng Cót, đưa ra một sáng kiến, mà tôi cho là vô cùng quan trọng: đó là việc chiết eo, để tôn cái đẹp của thân hình người phụ nữ lên. Sau này, chiếc áo dài phụ nữ ngày càng được cải tiến thêm, để tăng thêm tính chất bay bướm, năng động, tươi vui, của nó. Tuy nhiên, chiếc áo dài chỉ thật sự đẹp, khi người phụ nữ mặc nó có một thân hình đẹp: eo nhỏ, người thanh, chân cao, dáng đi uyển chuyển, động tác nhanh nhẹn... Và đây cũng là một điểm son của chiếc áo dài: nó rất kín, mà cũng rất hở, nhưng nó không khoan dung bất cứ một sự giả trá nào.

 Thầy giáo khăn đóng áo dài
Áo dài đàn ông không chiết eo, và có thể từ trước đến giờ vẫn như thế, từ chiếc áo vải thâm của các ông thầy đồ, hay của các cậu học trò nhỏ ngày xưa, cho đến chiếc áo của "liền anh" Quan Họ, hoặc  chiếc áo gấm của nhà quyền quý. Chiếc áo dài đàn ông không bó sát người, nên không cho phép người ta thấy được hình dạng cơ thể của người mặc nó. Quả là nó rất kín! Nhưng ngược lại, nhất là khi đội cái khăn xếp vào, thi nó tạo ra một thứ "đồng phục", không những che lấp cả cái cơ thể của con người, mà còn che lấp cả cái phong cách, điệu bộ, dáng dấp, của người đó, khiến cho người ta không còn phân biệt được ai vào với ai nữa! Tôi chỉ xin nêu một hình ảnh để so sánh. Bạn hãy tưởng tượng, trong một phòng hội, hay một phòng "salon" lớn, mọi người đều mặc "complet smoking" hết. Không ai thấy chướng cả, mặc dầu nó cũng là "đồng phục", vì sao vậy? Vì bộ "smoking", về mặt thẩm mỹ, có cái kiểu dáng riêng của nó: gọn gàng, thanh lịch, kín đáo, không che dấu cơ thể con người, và ít ra hơn một thế kỷ nay đã được sự đồng thuận của nhiều người, thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau:  nó có một chức năng rõ ràng, và có một giá trị thẩm mỹ đã được thử thách và được nhiều người nhìn nhận, từ hơn một thế kỷ nay.

Về mặt thẩm mỹ, không như chiếc áo dài phụ nữ, chiếc áo dài đàn ông không dựa vào đâu để có thể đẹp được, chắc chắn là không dựa được vào cái thân hình của người đàn ông rồi. Không lẽ bó eo lại, thì lại thành ra ẻo lả. Chiếc áo dài đàn ông chỉ tiện là vào mùa rét, nhất là ở miền Bắc và miền Trung nước ta, mặc áo dài ta ấm hơn và có thể thủ tay dưới vạt áo được! Nó không thể nào "bay bướm" được, ngược lại nó chỉ có thể khiến cho người đàn ông đi đứng càng thêm chậm chạp, nhất là với đôi giầy Gia Định lê lẹp kẹp!
Tuy nhiên, cũng có một ngoại lệ: chiếc áo dài "Đề Thám". Tôi tạm gọi như thế, vì ông Đề Thám lúc sinh thời chỉ mặc có chiếc áo dài này thôi, và khi ông chít khăn thì cũng không bao giờ dùng khăn xếp, mà dùng khăn quấn, cho nên rất hợp với chiếc áo dài vốn sẵn có đầy nếp của ông. Về mặt thẩm mỹ, chiếc áo dài "Đề Thám" có dáng dấp và phong cách rất độc đáo. Nó giống như thể một chiếc khăn lớn có những nếp nhăn xếp theo một chiều, tạo nên những đường nét mạnh mẽ. Rõ ràng "chủ nhân" của nó là một người có gu, từ đầu đến chân! Nhịp điệu của những nếp áo, tự chúng đã có một giá trị thẩm mỹ rồi. Nhờ đó mà chiếc áo có một vẻ đẹp sinh động, phù hợp với một con người thường hay phải di chuyển như ông Hoàng Hoa Thám. Đối với con mắt người ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được dễ dàng cái đẹp đó. Đó là cái đẹp của nhịp điệu và của chất liệu. Ông Đề Thám dùng loại áo vạt ngắn này để tiện cho việc đi lại, di chuyển, nhưng người ta có thể hình dung một kiểu áo cũng như thế, nhưng với vạt dài hơn, chắc cũng không xấu.

"Khăn đóng áo dài" của nam giới xấu vì cái gì?

Chiếc áo dài đàn ông không có gì là hấp dẫn cả. Điều đó, chúng ta đã thấy. Nó cũng không che đậy được cái hình dạng thật của cơ thể con người. Song, dù không có cá tính đến đâu, thì cũng không phải vì thế mà toàn bộ cái mốt "khăn đóng áo dài" trông không những khô khan, mà còn ngây ngô, nếu không muốn nói là lố bịch nữa. Vậy cái xấu nằm ở chỗ nào, và cái lố bịch nằm ở chỗ nào?
Theo tôi, đầu mối là ở chiếc khăn xếp (khăn đóng)!
Không phải tự nhiên, mà các cụ ta đã có cái thành ngữ rất chính xác, rất độc địa, và cũng rất là hài hước: "khăn đóng áo dài ". Chỉ riêng chữ "đóng", cũng đủ gợi  lên cái hình ảnh, nói lên cái ý nghĩa trịnh trọng, bó buộc, không thoải mái, của toàn bộ cách ăn mặc này (đóng khuôn, đóng khung, đóng bộ...). Chiếc khăn xếp, không như chiếc khăn quấn, mà mỗi người quấn theo một cách, người quấn to, người quấn nhỏ, người dùng vải, lụa, người dùng nhiễu. Do đó, có thể nói rằng, khăn quấn không cái nào giống cái nào, từ những cái nếp khăn, cho đến hình dạng chung. Chiếc khăn xếp, ngược lại, được sản xuất hàng loạt, ngày xưa nó là hàng thủ công mỹ nghệ, có cùng một hình dạng, khuôn mẫu, không thể thay đổi được. Tôi đã từng được xem người ta làm khăn xếp ở phố Hàng Nón ngày xưa. Khăn xếp đội lên đầu, là che lấp hết cả tóc ở đằng trước cho đến trán. Trông từ phía trước, hai bên cạnh của chiếc khăn hình trụ này là hai đường thẳng song song với nhau, càng làm tăng thêm vẻ khô khan cho toàn bộ khuôn mặt và chiếc áo dài (hay chiếc áo nửa dài, nửa thụng, ở Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, chẳng hạn). Về mặt thẩm mỹ, chiếc khăn xếp (khăn đóng) không đem lại được một đường nét nào làm "tôn" khuôn mặt lên được, ngược lại, nó tạo ra một hình tượng khô khan, cứng nhắc, trịnh trọng một cách giả tạo, và không mấy thanh lịch. Cũng như thể chiếc "vương miện" với cái vành to quá khổ của các bà, các cô theo mốt bà Nhu một thời, được đưa vào bộ y phục cưới của phụ nữ!
Quả là, chỉ "sai một ly đi một dặm". Từ chiếc khăn vấn của các nàng ngọc nữ ở chùa Dâu, đến cái mốt vương miện của bà Nhu, cũng như từ chiếc khăn quấn mềm mại, thoải mái, giàu cá tính, đến chiếc khăn xếp cứng đơ, đơn điệu, khoảng cách thẩm mỹ quả là rất lớn.
ảnh trên cùng: Áo dài Bảo Đại

Văn Ngọc (Paris)

ÁO DÀI CƯỚI THÊU CHO CÔ DÂU


Từ bao đời nay , áo dài luôn tôn vinh lên vẻ đẹp 1 cách trọn vẹn nhất của người phụ nữ Việt Nam
Và theo truyền thống , áo dài cũng là y phục mà người con gái sẽ khoác lên trong ngày trọng đại nhất của đời người
Hiểu được tâm tư đó , ÁO DÀI CÔ SÁU cho ra đời BST áo dài cưới " ÁO DÀI GẤM THÊU " , dành riêng cho những nàng dâu sắp bước vào ngày trọng đại
Chúng mình lựa chọn loại vải đẹp nhất
Thêu những bông hoa lên một cách tỉ mỉ nhất
Và những đường may sắc xảo nhất để tôn lên vóc dáng mềm mại nhất
Bởi chúng mình mong muốn khi nàng khoác lên người , sự duyên dáng sẽ được lột tả lên rõ nét nhất , khiến người đối diện phải say mê ❤️

BÁN ÁO DÀI MAY SẴN

Các nàng có thể đến mua / thuê ☺️
Giá thuê 200k/bộ
Giá bán tùy theo kiểu dáng

Ngoài ÁO DÀI CÔ SÁU còn cho thuê các concept kỷ yếu, đạo cụ chụp ảnh được cập nhật liên tục tại
🌐 Website www.saigonaodai.net - www.aodaicosau.com
🏡 Địa chỉ : 40 Hoàng Diệu 2 - P. Linh Chiểu – Thủ Đức - HCM
 Bản đồ tới Shop https://goo.gl/NaIZTv
 HOTLINE: 098.323.1116 (Cô Sáu)

ÁO DÀI CƯỚI THÊU CHO CÔ DÂU

ÁO DÀI CƯỚI THÊU CHO CÔ DÂUÁO DÀI CƯỚI THÊU CHO CÔ DÂU


MÀU ÁO CÔ DÂU VIỆT

Thực ra cho đến nay vẫn chưa thấy có tư liệu về màu áo cô dâu thời Lê, nhưng theo những tư liệu hiện còn lại, thì có thể thấy màu xanh từng được ưa chuộng và phổ biến dùng cho áo cô dâu Việt xưa (ít nhất là thời Nguyễn). Ngoài màu xanh, thì màu hồng và màu đen cũng được sử dụng phổ biến cho trang phục cô dâu.

Theo sách “Trang phục Việt Nam” của nhà nghiên cứu trang phục Đoàn Thị Tình, cô dâu miền Bắc (thời Nguyễn) vào ngày cưới tóc vấn đuôi gà, đầu khăn gài con bướm bạc, cổ đeo kiềng bạc, chuỗi hạt vàng, lưng đeo xà tích, váy sồi đen, mặc áo mớ ba, bên ngoài mặc áo the đen, trong là áo hồng và áo xanh. Cô dâu các miền khác cũng có lối ăn mặc tương tự, nhưng có một số tiểu tiết khác biệt. Cô dâu miền trung và miền Nam chải lật búi tóc, thay vì vấn đuôi gà. Cô dâu miền Trung có thể mặc lồng hai áo năm thân, bên trong là màu đỏ hoặc hồng điều, bên ngoài là áo vân màu xanh chàm (Cũng có thể mặc thêm áo the đen bên ngoài thành áo mớ ba), mặc quần trắng.

Về cô dâu Nam Bộ, Sách "Trang phục Việt Nam" cũng cho biết cô dâu miền Nam mặc quần lĩnh đen, tuy nhiên không nói rõ áo màu gì. Còn heo sách "Nhà ở - Trang phục - Ăn uống của các dân tộc vùng ĐBSCL" của tác giả Phan Thị Yến Tuyết, xuất bản năm 1993, trang 66:

"Vào lễ cưới, trang phục của cô dâu chú rể vùng Gia Định trước kia và vùng ĐBSCL hiện nay có những diễn biến theo phong tục và quan điểm thẩm mỹ, thời trang. Cho đến đầu thế kỷ XX... cô dâu mặc áo vân đen mỏng, quần đũi màu hồng sậm, cổ đeo xâu chuỗi hổ phách "hạt to bằng ngón tay cái", hai tai xỏ đôi bông búp bạc. Dâu và rể đều khoác bên ngoài áo thụng rộng xanh, lót màu cánh sen, khi ra sân có cặp lọng che. Trong những gia đình theo tục cũ, trang phục của cô dâu và chú rể đều là áo cặp.

Áo cặp ở Nam Bộ có thể là một dạng tàn dư, tồn tại biến dạng của "áo mớ" (áo mớ ba, mớ bảy) nơi tầng lớp mệnh phụ giàu có ở miền Trung. Vì khí hậu Nam Bộ nóng quanh năm, cư dân còn nghèo nên áo mớ không thể dung nạp, chỉ còn dừng lại ở dạng áo cặp trong nghi thức trang trọng như lễ cưới. Hoặc rõ rệt hơn, có thể "áo cặp" là phong tục chỉ sự "đủ đôi đủ cặp" trong lễ cưới, vì ngày trước ở vùng Gia Định có thời cô dâu, chú rể ngoài "áo cặp" còn mặc "quần cặp". Áo cặp tức áo song khai, cô dâu dùng áo the lót gấm hồng, chú rể dùng hàng the lót gấm xanh có dệt chữ "thọ" nhỏ (chữ thọ lớn chỉ dùng cho người lớn tuổi).

Chiếc áo dài của cô dâu, chú rể mặc bên ngoài người ta gọi là áo thụng. Đó là chiếc áo dài và rộng so với áo dài mặc bên trong, tay áo thụng cũng rất dài và rộng, của tay áo có khi lên đến 30 cm. Áo thụng thường được may bằng vải gấm dày, màu lục sậm, xanh sậm hoặc xanh lam có dệt hoa văn. Ngày trước, cô dâu chú rể tầng lớp bình dân ở ĐBSCL có khi mặc áo cặp, đội nón, đội khăn nhưng đi chân đất, không mang giày dép "

Còn theo bài viết “Gam màu đặc trưng của phục trang xứ Huế” trên trang báo Nét Cố Đô thì cô dâu Huế mặc áo cặp điều lục, đồng thời giải thích điều là màu đỏ, lục là màu xanh.

Như vậy có thể nói, kiểu mặc áo ngoài màu xanh, áo trong hồng hay đỏ (tức áo lục điều) là một kiểu phối màu phổ biến và nhất quán của cô dâu Việt thời Nguyễn, thậm chí có thể là trong những thời kỳ trước đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, ngoài màu xanh, trong một số đám cưới cô dâu có thể còn mặc nhiều màu khác nữa, tuỳ vào từng quan niệm, địa vị và hoàn cảnh. Áo đen, áo thâm là màu mang tính “bản sắc dân tộc”, được người Việt ưa chuộng trong lễ, tiết. Áo đỏ, áo vàng một phần là ảnh hưởng từ các dạng áo Nhật Bình trong cung. Áo đỏ cũng có thể do ảnh hưởng từ áo đỏ của cô dâu Trung Quốc, mang ý nghĩa đại cát, đại hỉ. Áo hồng, áo tím là màu đẹp, nhẹ nhàng, gợi cảm... Nếu có điều kiện, xin sẽ nói rõ hơn ở các bài sau về nguồn gốc và ý nghĩa các màu sắc trong đám cưới Việt xưa, đặc biệt là màu xanh đã nói đến ở trên.

Ảnh 1: cô dâu Đông Dương đầu thế kỉ XX, mặc áo cặp, trong đỏ ngoài xanh, đội nón cụ

Ảnh 2:cô dâu miền Nam đầu thế kỷ XX, mặc áo xanh ngoài, áo hồng bên trong, đội nón cụ. Chú rể mặc áo lam.

Ảnh 3: cô dâu Sài Gòn năm 1975 mặc áo gấm lục, đội khăn vành. Chú rể mặc áo lam.

Chia sẻ địa chỉ thuê áo tấc tại TPHCM

Bạn có biết địa chỉ thuê áo tấc nào chưa ?

Tìm địa chỉ thuê áo tấc tại TPHCM ở đâu ?

Địa chỉ thuê áo tấc truyền thóng nào đẹp và giá rẻ ?

Áo tấc, hay còn gọi là áo lễ, áo thụng, là một trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ với cổ đứng cài cúc bên phải (của người mặc), tà áo chắp từ năm mảnh vải, tương tự áo dài nhưng tay dài và thụng.
Đây là loại lễ phục trang trọng thời Nguyễn và sau này, tương tự như áo Vest ngày nay. Cái tên "áo tấc" xuất phát từ phần viền áo rộng đúng 1 tấc (4 cm).Trước đây, áo tấc thường được mặc kết hợp cùng với mũ tú tài, hay là khăn đóng. Dựa theo hình dạng và cấu tạo của cổ áo, áo dài có thể coi là một dạng áo lập lãnh, tức áo cổ đứng. Trước khi xuất hiện áo dài, trang phục phổ biến của người Việt là dạng áo giao lãnh (tức áo cổ chéo) và áo viên lãnh (tức áo cổ tròn). Chúa Nguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam như ngày nay.


Ngày nay, với xu hướng quay về trang phục truyền thồng cổ của Việt nam . Nhiều cô gái dùng áo nhật bình , chàng trai Việt Nam dùng áo tấc trong ngày trọng đại như lễ cưới, chụp ảnh cá nhân, lễ tất niên, các chương trình văn nghệ , chụp ảnh cưới …

Đáp ứng nhu cầu đó, nhiều dịch vụ bán hoặc cho thuê áo tấc cũng nổi lên nhiều ở Hà nội nhưng rất ít tại TPHCM. Việc lựa chọn được địa chỉ thuê ÁO TẤC đẹp với giá cả hợp lý sẽ giúp bạn tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí .

DESIGNLIFE shop – địa chỉ thuê ÁO TẤC đẹp giá mềm tại TPHCM

CÁC CONCEPT ÁO DÀI CÔ SÁU

TỔNG HỢP CONCEPT ÁO DÀI CÔ SÁU

  • Cho thuê áo dài cưới – áo dài cô dâu chú rể
  • Cho thuê áo dài bưng quả – áo dài bê tráp-
  • Cho thuê áo dài cách tân – áo dài tà ngắn
  • Cho thuê áo dài chụp kỷ yếu – áo dài trắng nữ sinh
  • Cho thuê áo dài lễ tân – khánh tiết – sự kiện
  • Cho thuê áo dài chụp ảnh – áo dài dự tiệc
  • Cho thuê áo khỏa chụp ảnh – áo khỏa bưng quả trung hoa
  • Cho thuê các trang phục kỷ yếu, mẫu mã đa dạng số lượng lớn
  • Bán áo dài cưới , may áo dài bưng quả, may áo dài lễ tân và các loại áo dài khác