Cho thuê áo dài cưới, bưng quả, lễ tân, áo dài chụp ảnh, áo dài cho mẹ, vest nam, việt phục, áo bà ba, trang phục kỷ yếu số lượng lớn nhất TPHCM

Image Slider

Vạt áo, đường ráp vải của áo ngũ thân như thế nào

Áo ngũ thân lập lĩnh được ghép bởi năm mảnh vải (năm thân): hai thân trước, hai thân sau, và thân con thứ năm nằm ở phía trước, bên phải người mặc. Thẳng từ cúc áo trên cùng xuống hết vạt trước và vạt sau áo có một đường may ráp hai thân áo được gọi là đường trung phùng.
Trên thị trường hiện nay có “áo ngũ thân” không đường trung phùng, thiếu vạt, vạt trong bị cắt ngắn, cắt vải bó eo v.vvv... Mọi người khi mua áo hãy lưu ý những điểm này để có những chiếc áo đẹp và chuẩn, đúng với tinh thần tôn vinh văn hoá dân tộc  
Áo đúng khi mặc lên sẽ có dạng chữ A (to dần khi xuống chân), hai bên cúp vào, không hở quần nhiều. Vạt áo ngũ thân lúc nào cũng sẽ phồng ra. Việc chọn vải là một yếu tố quyết dịnh dáng áo. Vải quá mềm và chảy sẽ làm ngực bị độn lên và vạt áo lõm vào thất thường.
 Xin lưu ý, khi đã may tà cong nhưng lại may bó eo, không sa vạt thì dáng áo vẫn sẽ biến khác. Lúc này vạt áo sẽ bó vào rồi xoè ra (kiểu áo tân thời) hoặc áo sẽ độn ngực lên và vạt lõm vào giữa hai chân.



Thông tin về cúc áo ngũ thân lập lĩnh

CÚC ÁO NGŨ THÂN LẬP LĨNH:
1. Năm cúc áo xếp thành hình chữ quảng (广). Cúc thứ nhất và thứ hai phải tạo thành đường thẳng tương đối vuông góc với đường trung phùng (đường ghép vải ở giữa áo).
2. Cúc làm bằng kim loại, đá, hoặc gỗ,... Tránh sử dụng cúc vải tết kiểu Tàu vì đây là vấn đề gây tranh cãi.
Hiện nay, nhiều nhà may làm cúc chéo xuống, cúc vải Tàu, đôi khi còn chế ra nhiều kiểu may cúc khác. Điều này là SAI và cần được sửa chữa để cho ra sản phẩm Việt phục chất lượng hơn. Thêm vào đó, may sai cúc sẽ làm sai dáng áo và cho ra những trang phục của anh hàng xóm.


Phân tích cấu tạo áo ngũ thân lập lĩnh chuẩn cổ


Áo ngũ thân lập lĩnh được định hình từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, được xem là tiền thân của áo dài ngày nay.

1.Thân áo
Được ghép bởi năm mảnh vải (năm thân): hai thân trước, hai thân sau, và thân con thứ năm nằm ở phía trước, bên phải người mặc.
Vạt áo xòe và cong, không may thẳng. Vì vậy khi mặc lên, hai bên tà cúp lại, không lộ hông, eo hay nhiều khoảng quần dưới đường xẻ tà như áo dài hiện đại.
2.Cúc áo
Áo ngũ thân có năm cúc, vị trí cụ thể như trên ảnh. Lỗi sai phổ biến là cúc thứ hai thường bị trễ xuống. Cúc thứ hai và cúc thứ nhất ở giữa cổ phải tạo thành một đường thẳng vuông góc với đường trung phùng (đường ráp vải giữa áo).
Cúc thường được làm từ kim loại, gỗ, đá quý... Tuyệt đối không sử dụng cúc vải to tết kiểu Trung Quốc.
3.Lớp áo
Mặc lót bên trong áo ngũ thân là lớp áo lót màu trắng.
4. Cổ áo
Cổ áo dựng vuông vắn hoặc vê tròn, ôm khít vào cổ.
Cổ áo lót trong may bằng vải mềm, cổ áo ngoài may cứng tạo độ đứng và ôm. Khi mặc lên, cổ áo lót trong cao hơn cổ áo ngũ thân.
Hiện nay, có một số chỗ may giả cổ( may thêm phần vải trắng lên cổ áo). Lưu ý khi đã mặc áo may giả cổ thì không mặc áo lót trong nữa.
5.Tay áo: 2 loại( thụng / chẽn)
Dù cho áo được may theo kiểu tay nào thì khi trải phẳng ra tay áo, vai áo vẫn phải nằm trên một đường thẳng
-Tay thụng: tay áo phải dài bằng hoặc hơn chiều dài tà áo (có thể chấm hoặc quét đất). Tay áo luôn là dạng hình chữ nhật, hai bề song song và không hề bó nách vì vậy khi chắp tay trước ngực sẽ có dạng hình vuông. Lỗi sai phổ biến của các nhà may hiện nay là may theo lối bó nách, khi chắp tay lại sẽ tạo thành hình tam giác.
*Áo ngũ thân tay thụng còn được gọi là áo tấc, áo lễ, áo thụng
-Tay chẽn: từ nách, tay áo thu hẹp dần và ôm vào cổ tay.
**Một số hình minh họa được dung trong bài do một thành viên không chuyên vẽ của trang vẽ ra. Có điều gì sai sót mong được mọi người góp ý!Phân tích cấu tạo áo ngũ thân lập lĩnh chuẩn cổ


Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp


Trong đám cưới theo phong cách việt cổ phục truyền thống , cô dâu chú rễ thường lộng lẫy trong bộ áo tấc và aó nhật bình, bên cạnh là những phụ dâu xinh xắn, phụ rễ trẻ trung. Sự góp mặt của dàn bưng quả thật sự rất quan trọng, do vậy việc tìm thuê bộ áo ngũ thân quả phù hợp cũng là một vấn đề khá đau đầu. Bởi lẻ, đội hình bưng quả không phải lúc nào cũng cân xứng và đồng đều về ngoại hình. Nên cần phải tìm được địa chỉ cho thuê ngũ thân bưng quả truyền thống vừa nhiều kiểu, vừa nhiều size để lựa chọn.

ÁO DÀI CÔ SÁU  – là một gợi ý mà bạn có thể tham khảo qua. Nơi đây có nhiều mẫu áo ngũ thân bưng quả đẹp, có rất nhiều kích cỡ khác nhau mà nhiều nơi khác không có đủ. Hôm nay chúng tôi xin gợi ý qua vài mẫu áo ngũ thân  bưng quả đang được ưa chuộng hiện nay.

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Nơi cho thuê áo ngũ thân bưng quả đẹp

Địa chỉ thuê áo ngũ thân cho chú rể không nên bỏ qua tại Sài Gòn

 Địa chỉ thuê áo ngũ thân cho chú rể không nên bỏ qua tại Sài Gòn


Ngày cưới theo phong cách cổ phục hay phong cách hiện đại là ngày trọng đại nhất của cuộc đời mình, bất cứ ai cũng mong muốn được xuất hiện một cách trịnh trọng nhất. Không chỉ có cô dâu mà các chú rể cũng cần chuẩn bị cho mình một ngoại hình chỉnh chu, phong thái lịch lãm và đón người bạn đời của mình. Bởi vậy áo ngũ thân cưới đóng vai trò vô cùng quan trọng nhưng chi phí cho một bộ áo ngũ thân lại khá đắt đỏ, cho nên thuê áo ngũ thân cưới là lựa chọn tiết kiệm nhất. 

Tại các thành phố lớn cũng như các tỉnh thành, để tìm một tiệm thuê áo ngũ thân chú rể không hề khó. Hầu hết các studio chụp ảnh cưới cũng cho thuê lễ phục ngày cưới rất thuận tiện. Tuy nhiên không phải địa chỉ nào cũng uy tín, đảm bảo chất lượng bộ trang phục dáng đẹp, nhiều mẫu mã. Điều quan trọng là giá thành có đi đôi với dịch vụ hay không? Đó có lẽ là điểu mà nhiều cặp đôi đang trăn trở.


Đến ngay Áo dài cô sáu và chắc chắn bạn sẽ tìm được đáp án cho cả ngày chụp ảnh cưới và ngày trọng đại của cuộc đời.

Những lý do nên chọn thuê áo ngũ thân cưới tại ÁO DÀI CÔ SÁU

Áo dài cô sáu được nhắc đến như một thương hiệu nổi tiếng với đa dạng sản phẩm trang phục cho thuê. Tại đây bạn có thể thỏa sức lựa chọn kiểu dáng, kích thước, màu sắc sao cho ưng ý nhất.



1. Đa dạng các sản phẩn áo ngũ thân cưới, áo ngũ thân chú rể cho thuê


Đến với Áo dài cô sáu cảm giác đầu tiên là ngỡ ngàng vì có quá là nhiều sự lựa chọn hấp dẫn. áo ngũ thân cưới đa dạng từ màu sắc đến mẫu mã, có màu vàng, màu xanh,hồng … Bạn thích cổ điển có áo ngũ thân cổ điển, bạn thích hiện đại có hiện đại, kể cả những bộ áo ngũ thân lạ mắt shop cũng có. Các sản phẩm được cập nhật một cách liên tục, theo hoa văn thời Nguyễn. Tùy thuộc vào sở thích của chính mình mà bạn chọn kiểu dáng phù hợp nhất. Điểm cộng cho Áo dài cô sáu là cung cấp nhiều size khác nhau để các chú rể mặc thử thoải mái.

2. Chất lượng áo ngũ thân cưới thời thượng, sang trọng




Tại  Shop, đi thuê trang phục mà mặc lên người có cảm giác bộ đồ đó là dành cho bạn. Chất lượng sản phẩm quá tuyệt vời, là áo ngũ thân nhưng khi khoác lên sẽ thấy sự mềm mại và thoải mái. Nếu size không vừa có thể đổi luôn, đến khi nào bạn ưng ý thì dừng lại.

Với những bạn kỹ tính cũng sẽ cảm thấy hài lòng khi nhìn từng đường kim, mũi chỉ đều rất tỉ mỉ. Mẫu mã thời thường, mang phong cách quý ông lịch lãm và bạn sẽ tỏa sáng nhất trong mắt người bạn đời.

Một bộ áo ngũ thân cho thuê có đầy đủ áo quần, khăn, vòng,hài và giày tây… chính vì vậy bạn không cần đau đầu lựa chọn phụ kiện đi kèm nữa. Áo dài cô sáu với con mắt thẩm mĩ tinh tường đã kết hợp lại để bộ áo ngũ thân cưới hoàn hảo nhất, màu sắc hòa hợp và còn trông rất “fashion” nữa.

3. Giá thuê hợp lý, tiết kiệm chi phí


Chi phí cho một đám cưới không hề nhỏ và trong số đó có một phần nằm ở trang phục. Nếu bạn mua mới giá khá cao, để tiết kiệm hơn nhiều người chọn cách thuê áo ngũ thân cưới.

Áo dài cô sáu với nhiều năm kinh nghiệm và là tên tuổi có thương hiệu nên bạn hãy yên tâm lựa chọn áo ngũ thân cưới tại đây. Không chỉ đa dạng mẫu mã, chất lượng đẹp, lên form tôn dáng mà còn có giá thành cho thuê và bán cực kỳ hợp lý.

Mức giá ở đây sẽ giao động theo mẫu mã sản phẩm, ví dụ như mẫu mới nhất thì sẽ có giá cao hơn mẫu của năm trước. Thường thì những bộ áo ngũ thân vải  sa hàn hoặc in hoa văn thời xưa sẽ có giá thê cao hơn các bộ đơn giản một màu. Áo dài cô sáu thường cho thuê với giá từ khoảng 200.000 – 400.000 VNĐ/ bộ.

Nếu bạn quá ưng ý và muốn mua lại thì shop sẽ bán với giá gốc, hợp lý nhất. Khi bạn chốt ngày thuê, shop sẽ để riêng và bảo quản thật cẩn thận, đảm bảo trang phục sạch sẽ và hoàn mỹ nhất khi xuất hiện trước họ hàng đôi bên. Và nếu bạn có nhu cầu thuê combo cả áo dài cô dâu, chú rể, trang phục sui gia, bê lễ… thì chắc chắn Áo dài cô sáu sẽ tặng ngay một discout hấp dẫn.

4. Hình thức cho thuê nhanh chóng, tiện lợi, đảm bảo uy tín

Áo dài cô sáu có thủ tục cho thuê rõ ràng và có hóa đơn để tránh những sự cố không đáng có như trang phục bị hư, hay người thuê đổi ngày… Thời gian thuê được tính gói 2 ngày nhưng tính tiền 1 ngày. Cho nên bạn có thể lấy trang phục về trước ngày cần dùng 1 ngày luôn.

Designlife một shop ở ngay trung tầm thành phố với áo việt phục đúng chuẩn giá thuê khá tốt tại khu vực

Hiện nay để tạo điều kiện tốt nhất thì shop đã xây dựng website để bạn liên hệ, chọn mẫu, size online mà không cần phải đến tiệm. Chỉ cần một cuộc điện thoại bạn sẽ được tư vấn kỹ về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, giá cả và nhân viên sẽ mang đến tận nhà cho bạn.

Hàn phục, Hoà phục, Việt phục, Hán phục... xuất hiện từ khi nào?


 

Hàn phục

Trong lịch sử thì Hàn phục không có tên chung như thế, chỉ có tên mỗi loại áo quần như chima, jeogori, dangui, vân vân. Tên chỉ chung thường xuất hiện trên sách là y trang, y quan, phục trang, đều chỉ có ý nghĩa đơn thuần là quần áo.
Chỉ đến khi tiếp xúc với tây dương thì một tên chung mới xuất hiện, nhằm phân biệt giữa đồ tây và đồ Triều Tiên.
Bên Trung gọi trang phục Triều Tiên là Cao Li phục, ý chỉ thời Cao Li, còn gọi trang phục tộc Triều Tiên sống tại Trung Quốc là Triều Tiên dân tộc phục sức.
Sau khi bán đảo bị phân thành hai, bên bắc lấy tên Triều Tiên, nên gọi áo là áo Triều Tiên (Choson-ot), bên nam lấy tên Hàn (ý chỉ Tam Hàn thời Tam Quốc), nên gọi là Hàn phục. Thế nhưng, áo Triều Tiên chỉ nghĩa là áo nhà Triều Tiên, còn Hàn phục thì bao gồm cả mọi loại áo trong lịch sử trên bán đảo.
Hoà phục
Khi Nhật bắt đầu học tập trang phục Trung Quốc, họ gọi quần áo đó là Ngô phục, vì các vải vóc làm áo đều nhập khẩu từ nước Ngô. Đến hiện nay, vẫn còn rất nhiều nơi bán đồ Nhật có tên là Ngô phục điếm. Trong thường ngày, người Nhật chỉ gọi đồ họ là trước phục, tức kimono, với ý nghĩa là đồ mặc lên người, quần áo. Hiện nay, trước phục vừa có nghĩa là áo Nhật, vừa có nghĩa là quần áo (bao gồm đồ Tây).
Vào thời Minh Trị, khi Nhật bắt đầu thu nhập văn hoá Tây, từ Hoà phục xuất hiện để trái lập với Dương phục (dương ở đây chỉ tây dương, người phương tây). Hoà trong Hoà phục là tên dân tộc người Nhật (Yamato, Hán Việt là Đại Hoà, hoặc Wajin, Hán Việt là Hoà nhân).
Việt phục
Cũng như Hàn phục, Việt phục vào thời xưa không có tên chung, chỉ có tên cho mỗi loại quần áo như tứ thân, năm thân, quần, váy, áo dài, vân vân. Trong tư liệu chữ viết thì có y trang, y phục, phục trang, y quan, y thường, vân vân.
Đến khoảng tầm năm 2016-2017, từ Việt phục chỉ trang phục truyền thống lẫn cổ đại của dân tộc Kinh bắt đầu xuất hiện trên các diễn đàn cổ phong, nhằm để phân biệt giữa trang phục người Kinh và người Hán. Dần dần thì từ này đã và đang được phổ biến đến thời điểm hiện tại.
Hán phục
Văn hiến cổ nhất ghi nhận cụm từ Hán phục là trong lăng mộ Mã Vương Đôi thời nhà Hán. Trong lăng mộ có thẻ tre ghi "mĩ nhân tứ nhân, nhị nhân Sở phục, nhị nhân Hán phục", dịch là "bốn nàng mĩ nhân, hai nàng mặc áo Sở, hai nàng mặc áo Hán." Từ thời nhà Hán thì cụm từ Hán phục đã được sử dụng để phân biệt trang phục dân nhà Hán với các nước lân bang. Sau khi nhà Hán sụp đổ thì từ này biến nghĩa thành trang phục của dân tộc Hán. Đến thời Đường, Tống, Minh vẫn xuất hiện từ Hán phục để chỉ trang phục dân Hoa Hạ, nhằm phân biệt với các nước lân cận không cùng văn hoá.
Vào thời nhà Liêu, trong nước có rất nhiều dân Hán, nên từ Hán phục được sử dụng để phân biệt giữa áo tộc Khiết Đan và tộc Hán, đồng thời cũng gọi y quan của hoàng tộc nhà Liêu là Hán phục, vì họ đã học tập y quan của nhà Đường.
Đến thời nhà Thanh, Hán phục bị phế, nhưng phụ nữ tộc Hán vẫn mặc Hán phục. Vào thời này, trang phục của tộc Hán, dù là học từ Mãn hay lưu lại từ nhà Minh, đều được gọi là Hán trang, tức trang phục tộc Hán.
Khi Hán phục vận động bắt đầu xảy ra tại Trung Quốc, đưa Hán phục thành y phục truyền thống chính thống của tộc Hán, cụm từ Hán phục được sử dụng rộng rãi để chỉ loại áo này, còn loại áo người Hán mặc vào thời nhà Thanh không được gọi là Hán phục, mà là Hán trang. Hán phục còn được gọi là Hoa phục, tức trang phục Hoa Hạ, nhưng sau khi nhà nước chính thức đặt ngày Hoa phục, từ Hoa phục được sử dụng để chỉ trang phục nước Trung Hoa, tức tất cả các trang phục của mọi dân tộc trong nước, bao gồm cả trang phục của tộc Triều Tiên và tộc Kinh tại TQ.
Nguồn:Kiet T Tran

Trang sức với Việt phục xưa

Hình ảnh phụ nữ … triều Nguyễn trên các bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX thường được thể hiện trong trang phục triều hội, với các “phụ kiện” như nón, ngọc, lắc tay và các món trang sức bằng vàng, ngọc và đá quý rất độc đáo. Trang sức của vua chúa, quý tộc hay đình thần,  thể hiện danh phận, quyền uy và vinh hạnh của người phục sức










Những điều cần tránh khi may áo dài ngũ thân

 

Những điều cần tránh khi may áo dài ngũ thân

Những điều cần tránh khi may áo dài ngũ thân
Nguồn: viêt phục hội

ÁO NHẬT BÌNH - THƯỜNG PHỤC HOÀNG HẬU,CÔNG CHÚA,HẬU PHI THỜI NGUYỄN.

 Triều Nguyễn có những quy định khác biệt về trang phục cho các giai tầng trong xã hội, dựa trên các tiêu chí: chất liệu vải, màu sắc, cách may, họa tiết trang trí, thậm chí cả số lượng y phục dành cho từng hạng người cũng có những quy định rất chặt chẽ.

Theo "Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ" thì áo Nhật Bình được quy định là thường phục cho Hậu Phi, Công chúa.
Áo Nhật Bình có nguồn gốc từ áo Đối Khâm Phi Phong đời Minh là dạng áo Đối Khâm có cổ hình chữ nhật to bản, dùng dây buộc 2 vạt áo.
Do hoa văn ở cổ áo khi ghép lại tạo thành một hình chữ nhật ngay trước ngực người mặc, nên áo này gọi là áo Nhật Bình. Khắp thân áo trang trí theo thể thức hoa văn chính là dạng hình tròn khép kín, rải rác khắp áo đan xen với các hình phượng múa, hoa lá đính thêm các hạt tuyến lấp lánh. Ở tay áo đặc biệt có dải màu ngũ hành; lục, vàng, xanh, trắng, đỏ. Tuy nhiên quy chế tay dãy màu này lại không áp dụng trên loại áo Nhật Bình của bậc Hậu.
Màu áo của bậc Hậu đều là màu vàng chính sắc, đôi khi là màu cam; còn bậc Công chúa đều là màu đỏ chính sắc, bậc Phi tần nhị giai là màu xích đào, bậc Tam giai là màu tím chính sắc và bậc Tứ giai là màu tím nhạt, bậc phi tần thấp hơn không có quy định trang phục này. Màu sắc áo của các mệnh phụ quy định dựa vào phẩm cấp của chồng. Bậc Nữ quan có trang phục đơn giản hơn hẳn, gần với áo Phi Phong nguyên mẫu nhất.
Vào thời Gia Long và Minh Mạng, quy chế còn đủ đầy, áo Nhật Bình thường phối với một bộ Xiêm y màu tuyết bạch, đội mũ Phượng tùy thứ bậc. Tuy nhiên về sau, nhất là từ thời Đồng Khánh trở đi, trang phục này thường phối với quần ống trắng và vấn khăn vành to bảng, cho thấy quy chế thời kì cuối nhìn chung ở cung đình đã tối giản hơn hẳn.
Sau khi thời Nguyễn kết thúc, bộ áo này trở thành bộ áo trang trọng của giới quý tộc được mặc vào một số dịp lễ và nhất là ngày cưới.
Cũng theo "Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ " thì quy chế thường phục của hậu phi, công chúa nhà Nguyễn năm 1807 cụ thể như sau :
- Hoàng hậu:
+ Mũ: 2 chiếc Cửu long kim ước phát, 1 cửu phượng kim ước phát, 8 trâm phượng bằng vàng.
+ Y phục: 1 áo bào Nhật Bình làm bằng sa sợi vàng thêu 20 hình rồng phượng, loan, trĩ, 1 thường may bằng tơ Bát ti trắng thêu rồng phượng.
- Công chúa:
+ Mũ: 1 Thất phượng Kim ước phát, 12 trâm hoa.
+Y phục: 1 áo Nhật bình may bằng sa sợi đỏ, thêu phượng ổ.
- Cung tần nhị giai:
+ Mũ: 1 chiếc Ngũ phượng Kim ước phát, 10 trâm hoa.
+ Y phục: 1 áo Nhật bình bằng sa màu xích đào thêu loan ổ, 1 thường làm bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ.
- Cung tần tam giai:
+ Mũ: 1 chiếc Tam phượng Kim ước phát 8 trâm hoa.
+ Y phục: Áo Nhật bình làm bằng sa màu tím chính sắc thêu phượng ổ, 1 thường làm bằng tơ Bát ti trắng thêu loan ổ.
- Cung tần tứ giai:
+ Mũ: 1 chiếc nhất Phượng kim ước, 8 trâm hoa.
+ Y phục: 1 áo Nhật bình bằng sa màu tím nhạt, 1 thường bằng tơ Bát ti trắng thêu loan.
Tới năm Thiệu Trị thứ 6 (1846): lại quy định các cấp cung tần nhât và nhị giai đều đội mũ Kim phượng có 3 bác sơn, nhất giai 8 phượng, nhị giai 7 phượng, tam giai búi tóc cài trâm phượng, tứ - ngũ giai 0 cài trâm.
Kiểu dáng cụ thể của các loại mũ Kim phượng và Kim ước phát thì tới nay không thể khảo cứu được.
Tuy nhiên dựa theo tranh vẽ và ảnh chụp vào các thời Đồng Khánh, Khải Định thì các phụ nữ qúy tộc lại đội khăn vàng dây mặc với áo Nhật Bình, điều này cho thấy quy chế trang phụ vẫn được sửa đổi.
Khăn vành dây (Gọi tắt là khăn vành) là khổ vải dài chừng 8 -10 m, rộng khoảng 30 cm, được quấn gấp nếp nhiều vòng quanh đầu có lúc lên tới 20 -30 vòng, sau này loại khăn vành này được sử dụng cả trong dân gian làm lễ phục, tới nay trong một số lễ hội có tính chất phục cổ khăn vành vẫn được dùng.
******
Ảnh: Tranh vẽ trưởng công chúa đội khăn vành mặc áo Nhật bình.

Vietnamese Traditional Costumes: History, Culture and Where to Find Them

When talking about Vietnamese traditional costumes, many of you will just be familiar with the ao dai. However, in addition to the ao dai, our country has many other incredible traditional costumes such as ao tu than, ao Nhat Binh, ao tac, and ao ba ba. There is no doubt that the ao dai is very well-known in Vietnam and the world, but today I am going to introduce to you more about our traditional clothes. But let’s start with the ao dai.

vietnamese traditional costumes history culture where to find them
Photo: Hisu lee

Ao Dai

This is the most popular traditional costume of Vietnam. Nowadays, the ao dai is preferred by women more than men and you can encounter Vietnamese women in the ao dai in every corner of our country. Ao dai, literally means long dress, it has long trousers and a two-flap dress with different colors and patterns. A truly elegant piece of clothing, it gives me pride to see someone dressed this way on the street.

vietnamese traditional costumes history culture where to buy
Foreigners love Vietnamese ao dai

The history of the ao dai dates back to the second half of the 18th century, to 1774. At this time, there was a civil war within Vietnam: The North was ruled by the Trinh family and the South was ruled by the Nguyen family. In the south, the first Lord Nguyen Phuc Khoat recognized that our costumes were very similar to those worn by the Chinese and with an ambition to be a king of an independent land, he ordered his people to change the way they dressed.

traditional vietnamese ao dai dress
Traditional ao dai

According to the decree, for casual clothes, men and women had to wear gowns with straight collars and short sleeves, small or wide sleeves were optional. The gown has two seams on either side. It allowed men to wear gowns with a round collar and small sleeves when working for more comfort. This marks the first generation of the ao dai with five flaps called than. The two flaps in the front and two flaps in the back were the four main thans and represented tu than phu mau, which represents the birth parents and parents-in-law. The last than was designed inside the front flaps, representing the wearer. In a word, this five than design means the four parents always protect their child. There were five buttons on this gown, representing ngu thuong, which represent the five cardinal virtues of Confucianism: humanness, righteousness, proper rite, knowledge, and integrity.

Recommendation

The decree of Lord Nguyen Phuc Khoat in 1774 marked an important innovation in Vietnamese clothes, which ultimately characterized our traditional costumes. After Nguyen Phuc Anh reunified the territory of Vietnam in 1802, which was the beginning of the Nguyen Dynasty, the ao dai became the national clothing of this dynasty.

Since the 19th century, the two front flaps were sewn into one flap, and the two back flaps were sewn into a singular back flap. The fifth flap still remained (now the third than) behind the front flap. The ao dai became a long dress with two slits on both sides, very similar to the modern ao dai.

Later, the fifth flap was eliminated, the modern ao dai appears with only two flaps, front and back.

The specialty of the ao dai is that it is a tight-fitting dress which magnifies the beautiful curves of a woman’s body. The slits on both sides up to the waist create a charming and unique cut that is classically flattering. Today, designers have created many new styles of ao dai, diversifying this costume.

vietnamese national costume female ao dai modern style
Photo: Oversized Shop

Modern Vietnamese women usually wear the ao dai for special occasions such as Tet (Vietnamese New Year), weddings, festivals, and ceremonies. In public high schools, schoolgirls have to wear the white ao dai twice a week, on Monday and on an optional weekday. High school female teachers also have to wear the ao dai when they are in class, but they can choose the color and style.

vietnamese ao dai for sale
Source: Phapluat

Thanks to the innovative ao dai, women can now wear this fit when they want: to work, for a walk, to go on a date, and even traveling.

For men, since the era of Lord Nguyen, these clothing rules are not as strict. Later, the gown for men became more comfortable and convenient. Nowadays, men occasionally wear it for special events but it’s less popular than for women. Men’s ao dai, of course, is not as tight as the women’s.

vietnamese national costume male
Traditional male ao dai | Photo: sonjymec.com

Ao Tu Than

No one knows exactly when ao tu than appeared, but archeologists found the image of ao tu than sculpted on the surface of trong dong, a kind of copper drum, thousands of years ago.

Ao tu than has four long flaps, two in the front and two in the back, also called than. The meaning of these thans is like the four main flaps of the first generation of ao dai, they represent the birth parents and parents-in-law. In addition, the ao tu than doesn’t have the fifth inside flap or buttons. Ao tu than is sewn by connecting four pieces of garment (the same or different colors) but the ends remain split. Wearers first put on a bodice called yem, then a thin shirt. Women tie their waist with a silk sash. The ao tu than is worn as the outermost layer. Because it doesn’t have any buttons, wearers tie a knot using the two front flaps around their middler you can let these pieces of fabric dangle for a looser fit.

vietnamese traditional ao thu than
Source: Dantri

A long black skirt is worn beneath the ao tu than and it almost touches the floor. Non quai thao, which is a large flat palm hat, is a popular accessory of ao tu than. In the past, ao tu than was dyed with natural colors, like the dye-yam, tropical-almond leaves, or mud. Now, ao tu than is dyed with many bright colors, making it more beautiful.

Ao tu than in the past was worn as casual clothing by the northern women. In the present time, our northern women still wear it but just on occasion like when performing quan ho, a Vietnamese folk music style.


Ao Nhat Binh

Ao Nhat Binh literally means square-collared garb. This was one of the casual clothes of the empress dowager, empress consort, and princesses in the imperial city of the Nguyen Dynasty – the last dynasty of Vietnam. When there were informal events, these royal women would wear the ao Nhat Binh instead of the Phuong bao (means the garb of phoenix), which was the noblest clothes of the empresses and princesses. For consorts, female officials and those ladies with high social status, ao Nhat Binh was their noblest clothes.

Ao Nhat Binh is a straight-collared garb, whose collar dangles down, making two parallel lines. The origin of ao Nhat Binh was from Phi Phong garb, which was popular in the Ming Dynasty of China. When wearing ao Nhat Binh, wearers tie a knot with the pieces hanging from the collar in front of the chest and decorate (to hide the knot) with a sculpted gem. On the collar are flowers and phoenix patterns. The garb may be plain with one color or can be embroidered with many circular patterns. On the cuffs, there are five colored lines which are green, yellow, blue, white, and red representing the Five Elements wood, earth, water, metal, and fire.

ao nhat binh vietnam
Source: Facebook @ Nguyen Phong Doan Linh

According to the Nguyen Dynasty decree, the compulsory color of ao Nhat Binh for the empress was pure yellow, sometimes orange. For the princess, it was pure red. Peach, pure violet, and light violet were the colors for the consorts.

For lower status women, there were no required colors. A turban and long white silk trousers were dressed together with ao Nhat Binh.

After the collapse of Nguyen Dynasty in 1945, ao Nhat Binh became a formal garb of upper and middle class to wear in important ceremonies, especially in a wedding.

Currently, young Vietnamese are trying to revive the ao Nhat Binh and bring back the culture of the Nguyen Dynasty. You may want to visit the Facebook page Little For to get more information about new styles of ao Nhat Binh. If I had to choose the most stunning traditional costume of Vietnam, I will vote for ao Nhat Binh instead of the most popular ao dai.


Ao Tac

To make it simple, ao tac is a variant of the ao dai, but it has loose and large sleeves. This is considered the national costume of the Nguyen Dynasty, because ao tac can be worn by any class in society, from the royal, the officials, to the middle and lower class, and can be worn by both men and women.

Ao tac was worn in important ceremonies and occasions such as a wedding, funeral, Tet, and worship events. You can wear any color you want, but it should be based on the occasion. When wearing an ao tac, your two arms ought to be folded in front of the stomach because the sleeves are long and baggy. This action is to hide both hands and show the humbleness, respect, and elegance in crucial events.

vietnamese traiditional ao tac
Source: Facebook @ Nguyen Phong Doan Linh

Like the ao dai, the ao tac has a standing and circular collar and is a form of the five-flap gown. It can be plain or decorated by woven patters. An ao dai or five-flap gown with a high collar was worn beneath the ao tac. The reason is in the past, the ao tac was a deluxe costume and only worn for important events, the first layer of clothes was worn to protect the ao tac. Usually, men wore a white gown against their skin while women could wear any color they wanted. This attire can also go with a wrapped turban.

Nowadays, Vietnamese still wear ao tac in such occasions as weddings, funerals, and ancestor worship. The ao tac is also one of the costumes being reimagined in new styles and can be worn whenever we want, not only on special occasions like before.

Some of our pictures about ao Nhat Binh and ao tac are taken in the permission of the Facebook page Nguyen Phong Doan Linh, which provides a lot of information about Vietnamese traditional costumes, especially in the Nguyen Dynasty. You can visit this page to learn more about our costumes, they also have English descriptions.

Where can you buy the ao tac?

Little For, in addition to ao Nhat Binh, also provides new styles of ao tac, so you can buy it by contacting the page.

Ao Ba Ba (ao ba ba)

It is important to realize that this name is actually áo bà ba. There is a small difference in the tone of the words ba. Ao ba ba literally means the shirt of madam Ba. There are many assumptions about the origin of ao ba ba, but now I would like to tell you an interesting story.

vietnamese ao ba ba old lady pyjamas
Photo: @united_2208

Once upon a time, everyone in this country had to wear long gowns. There was a fisherman who was very poor but had to wear the gown like the others. Day by day, the gown accumulated tears but he didn’t have enough money to buy a new one. The gown became shorter and shorter, and it had many holes which made it look like a turtle’s shell.

One day, when he was walking on the beach to fish, he saw the king with his subordinates coming. He was so afraid the king would punish him because he was wearing the wrong costume that he ran and fell into a swamp nearby. He tried to stand up but couldn’t. Now the king came and saw that he looked like a turtle because of his gown and the mud. Then the king asked the fisherman the reason he hid, and the fisherman told the king of his poor condition. The king smiled and replied:

“Don’t be afraid, you are not guilty! A few moments ago, I thought you were a ba ba (with no tone, it means turtle in Vietnamese). It turns out you are a man in a ba ba shirt”.

Then, the king gifted him gold and cloth. The fisherman happily said thank you to the king. He was no longer poor but still kept the ba ba shirt. Afterwards, many poor people followed the style of the ba ba shirt because it didn’t require too much cloth and was easy for them to work in. This shirt was called ao ba ba. The women realized that ao ba ba was also suitable for them, so they started to wear it. The men saw that and said the women were wearing ao bà ba, which meant the shirt of madam Ba. Gradually, the original name ao ba ba was forgotten and áo bà ba subsumed its place.

ao-ba-ba-vietnam
Source: Marry

It is a simple short shirt with long sleeves and buttons from the neck down to the belly. Áo bà ba is always paired with long silk trousers. The colors of this set depend on the combination and the desire of the wearers. Áo bà ba is a popular costume in the Vietnamese countryside, especially southwestern Vietnam. You can see most of the southwestern people wearing this shirt during many activities.


Recommendation

PHÂN BIỆT NÓN QUAI THAO VÀ BA TẦM

Nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, Trống Đồng Đông Sơn, trên thạp đồng Đào Thịnh trước công nguyên đây từ 2.500-3.000 năm. Người Việt cổ từ xưa đã biết lấy lá buộc lại làm vật che mưa, nắng. Chiếc nón lá gắn bó với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta hơn bốn ngàn năm văn hiến . Từ xa xưa, nón lá đã hiện diện trong đời sống hằng ngày của người Việt . Trong văn hóa Quan họ, nón Quai thao và nón Ba tầm là hai loại nón khác nhau:

Các Liền chị đi hội chỉ dùng nón Quai thao (hay nón thúng Quai thao). Nhưng đây không phải là nón riêng của cô gái Quan họ mà là của các cô gái Bắc Bộ xưa. Nón quai thao chủ yếu để làm duyên, khi ca Quan họ còn để dựng giầu ( trầu) mời khách. Dùng nón Quai thao không phải để che mưa nắng khi đi lại mà chỉ để treo lên che cố định do có đường kính to hơn nón Ba tầm nên khi di chuyển gặp gió lớn sẽ bất tiện , nón không có độ dốc như nón Ba tầm, không làm dày lá bằng nón Ba tầm.

Nón Quai thao và nón Ba tầm dành cho hai đối tượng sử dụng khác nhau nên khác nhau cả về cấu tạo. Do đặc điểm thời tiết vùng miền,ở miền Trung nắng gió nhiều hơn nên nón có xu hướng nhỏ gọn và dày hơn


Nón Ba tầm thường là nón dùng cho người lớn tuổi. Nón Ba tầm ngoài yếu tố thẩm mỹ thì mục đích sử dụng là che mưa, che nắng, thậm chí làm quạt khi nóng, đôi khi có thể múc nước rửa mặt, làm thay khay đựng các vật dụng, đồ dùng khi buôn bán. Trong bài Lý cây đa, Liền anh hát "Chẻ tre đan nón ba tầm" là ý trêu các Liền chị với cách trêu dí dỏm không nhanh thì già hết duyên... Chứ không phải Liền chị đội nón Ba tầm. Tầm cũng có thể hiểu là khoảng, độ dài áng chừng.. nên cũng có nhiều người xưa hiểu nôm na là nón rộng khoảng 3 tầm gang tay hay từ chỏm nón ra khỏang 3 gang tay..độ áng chừng quyết định chiều rộng của nón 4 tấc , 6 tấc...mặt khác cũng phụ thuộc vào kích cỡ của nguyên liệu, loại lá gì..

Bài QH Lý cây đa

Trèo lên quan i dốc ngồi gốc í i cây đa,
ta à lý lý như cây đa í i
Thấy i cô phú lý tình là cô mặc áo vỏ già,
ta lý lý như nâu non ấy vỏ à già,
ta lý lý như nâu non i
Khăn thâm đầu dí,
ta à a lý lý như đội đầu,
ta à a lý lý như đội đầu ì
Nửa thương i phú lý tình là a thương bên nọ ấy nửa sầu,
ta lý lý như bên kia,
ấy nửa sầu ta lý lý như bên kia i

Áo lương năm ì i cúc,
ta à a lý lý như viền tà,
ta à a lý lý như viền tà ì
Ai may i phú lý tình là a cho người mặc,
ấy hay ì là ta lý lý như em may,
ấy hay là ta lý lý như em may i
Chẻ tre đan nón,
ta à a lý lý như ba tầm,
ta à a lý lý như ba tầm i
Ai i đan i phú lý tình là cho người đội ấy hôm à rằm,
tà a lý lý như tháng Giêng ấy hôm à rằm,
tà a lý lý như tháng Giêng

· Ca dao:

*Chưa chồng nón thúng quai thao,
Chồng rồi nón rách quai nào thì quai.
Chưa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.

*"Ai làm cái nón quai thao, Để cho anh thấy cô nào cũng xinh."

*Cô kia nón nghệ quai thao

Chồng cô đánh giặc biết bao giờ về

* "Chẻ tre đan nón ba tầm, ai xui cô mình đội xem hội đêm Rằm" - lời ngỏ của những chàng trai ngày xưa cũng thật ý nhị. Rõ là khen ai rồi mà vẫn phải dẫn dụ xa gần "ai xui cô mình đội chiếc nón xinh đẹp đến thế để chúng anh ngẩn ngơ".

Không chỉ là vật che mưa, che nắng, chiếc nón lá chứa đựng kho tàng lịch sử của nền văn minh lúa nước của người Việt. Tục truyền rằng vua Bà làng Diềm (Viêm xá) , Đức Bà luôn đội một chiếc nón làm từ bốn chiếc lá hình tròn. Bất cứ nơi nào người xuất hiện, những đám mây mưa tan biến nhanh và thời tiết trở nên thuận lợi. Đức Bà dậy dân làng Diềm dẫn thủy trồng lúa và những loại cây lương thực khác. Người dân làng Diềm biết ơn và đã xây dựng một ngôi đền để tưởng nhớ công ơn của Đức Bà thủy tổ.




Hình ảnh Nón Ba Tầm quai thao trên một tấm bưu thiếp của người Pháp đầu thế kỉ 20


Cấu tạo


Nón thường được đan bằng các loại lá khác nhau như lá cọ, lá nón, lá buông, rơm, tre, lá cối, lá hồ, lá du quy diệp chuyên làm nón v.v...Lá làm nón phải là loại tốt to bản, không bị sâu mọt và rách , không quá già – lá thường đang còn búp vừa đủ một tháng tuổi và phát triển hết chiều dài, chiều ngang, chưa chuyển sang màu xanh đậm, các bẹ lá ôm khít với nhau, chưa bung ra, có độ mềm với chiều dài khoảng 40-50cm. Nón thường làm hai lớp lá , cũng có thể làm 3 lớp lá , tùy theo nón làm bằng nguyên liệu loại lá nào. Nón Ba tầm có độ dốc hơn nón Quai thao và có đường kính nhỏ hơn nón Quai thao. Thường thì nón Ba tầm có đường kính dưới 4 tấc ( dưới 40 cm) ; nón Quai thao 12 tấc ( 1m20). Nón thường có dây đeo làm bằng vải mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ. Quai nón cũng có màu hồng đào, hai bên quai nón có những quả thao được bện bằng tơ cũng màu hồng... vành cao 10–12 cm hoặc hơn. Lòng nón đính một cái vành hình phễu gọi là khùa hoặc khua (Nôm: 摳) để trong tâm lòng nón để ôm giữ chỏm đầu người đội, gia cố nón trên đầu người sử dụng. Ngoài ra, người ta thường kết vào vành nón đôi chùm chỉ thao sặc sỡ để làm duyên, nên thảng hoặc được gọi là nón Quai thao (Nôm: 𥶄乖絛).

Nón thường có hình chóp nhọn hay hơi tù, tuy nhiên vẫn có một số loại nón rộng bản & làm phẳng đỉnh. Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốn thành hình vòng cung, được ghim lại bằng sợi chỉ, hoặc các loại sợi tơ tằm,... giữ cho nón với khung bền chắc...

Cách làm


Nón làm bằng nhiều vật liệu khác nhau nhưng chủ yếu bằng lá , nan tre, khung chiếc nón được chuốt từng thanh tre mảnh, nhỏ và dẻo dai rồi uốn thành vòng tròn có đường kính to nhỏ khác nhau thành những cái vành nón.Có đến 16 cái vành, vành nón to nhất có đường kính rộng khoảng 40 cm, cái tiếp theo nhỏ dần và cái nhỏ nhất tròn bằng đồng xu. Tất cả được xếp tiếp nhau trên một cái khuôn hình chóp. Những chiếc lá nguyên liệu được lấy về từ rừng đem phơi khô cho trắng xử lý theo bí quyết, kinh nghiệm rồi được xếp từng cái chồng khít lên nhau cất giữ cẩn thận để tránh bị mốc. Khi được đem ra làm nón người phụ nữ, thợ thủ công lấy từng chiếc lá, làm cho phẳng rồi lấy kéo cắt chéo đầu trên lấy kim xâu chúng lại với nhau chừng 24-25 chiếc lá cho một lượt sau đó xếp đều trên khuôn nón. Lá nón mỏng và cũng chóng hư khi gặp mưa nhiều nên các thợ thủ công nghĩ ngay ra tận dụng bẹ tre, nứa khô để làm lớp giữa hai lớp lá nón làm cho nón vừa cứng lại vừa bền. Khâu đoạn tiếp, thợ thủ công lấy dây cột chặt lá nón đã trải đều trên khuôn với khung nón rồi họ mới bắt đầu khâu. Người thợ đặt lá lên sườn nón rồi dùng dây cước & kim khâu để chằm nón thành hình chóp. Nón sau khi thành hình được quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền và tính thẩm mĩ . Đây chính là lý do nón làm 3 lớp nên có người cho rằng nón làm ba tầng ( 3 lớp) = Ba tầm (tên nón). Để làm ra được một chiếc nón lá vừa đẹp, vừa nhẹ, vừa bền là cả một nghệ thuật và công phu của những nghệ nhân, đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu trong từng công đoạn của quy trình sản xuất.

Do có hình dáng tương đối giống nhau nên nhiều người hiểu nhầm 2 loại nón là một và có những bài ca có dùng nón Ba tầm cho Quan họ. Chứ các bài Quan họ không có bài nào có tên nón Ba tầm. Mà chỉ có nón Quai thao do nhạc sỹ sáng tác theo các làn điệu Quan họ.


Nón lá có nhiều biến thể từ phiên bản ban đầu sau khi xuất hiện lần đầu tiên hơn 3.000 năm trước. Nhiều loại nón phổ biến như nón Ba tầm hay nón Quai thao có hình dạng phẳng và tròn. Nón Quai thao là một phụ kiện quan trọng của phụ nữ nông thôn vào những dịp lễ hội hay chùa chiền. Ngày xưa, người ta phân loại nón theo mức độ của chủ sở hữu. Có một số loại nón dành riêng cho người cao tuổi; những người giàu có và quan lại. Mỗi loại có hình dạng riêng và kiểu cách đặc biệt; đôi khi nón lá cũng khác nhau theo từng vùng miền. Mặc dù không còn là vật dụng hàng ngày của người phụ nữ ngày nhưng nó vẫn rất phổ biến ở các hoạt động văn hóa Quan họ. Hình ảnh người con gái trong tà áo tứ thân, quấn khăn mỏ quạ và đội chiếc nón Quai thao là nét đặc trưng cho người con gái Kinh bắc ,Việt Nam.

Ba tầm (Nôm: 𥶄𠀧尋) là cách gọi một loại nón của người Việt Nam, nay chưa rõ thời điểm xuất hiện. Đây là vật dụng tránh nắng mưa rất phổ biến của đàn bà Bắc Kỳ hồi trung đại, được chứng thực bởi nhiều sử ký và họa phẩm. Ở hậu kỳ hiện đại, Ba tầm được sử dụng hiếm hơn và thường chỉ hiện diện trong các lễ hội.

Tên gọi Ba tầm dựa theo đặc trưng của thứ nón này, trong các tư liệu của người Pháp cuối thế kỷ XIX, Connaissance du Viet Nam (1954), ba tầm được chuyển ngữ là Le chapeau de trois tầm (3 fois 8 pouces: 1m20), trong đó, tầm là đơn vị đo chiều dài của người Á Đông, Một "Tầm" bằng tám "Thước" (hay Xích). Cứ theo sách Vũ trung tùy bút, nón Ba tầm vốn được cách tân từ nón ngoan xác đã thất truyền hồi cuối thế kỷ XVIII, là sự kết hợp kiểu dáng của các thứ nón dâu, ngoan xác và viên cơ. "Ba tầm là chỉ kích thước của chiếc nón chứ không phải là vì nón được lợp bằng ba lớp lá". Về cái tên nón Ba tầm, trong cuốn Technique du peuple Annamite (1909), phần chú thích bằng chữ Hán ghi là : "Nón phụ nữ, tục ngôn ba tầm". Chữ "Tầm" ở đây là chữ để chỉ kích cỡ đo lường như trong "tầm cỡ, tầm thước, tầm vóc ...".

Những chiếc nón Ba tầm lớn với đường kính 60, 70 cm còn được gọi là "nón Mười". Nón Ba tầm có lòng sâu, thành cao thường được các bà các cô sử dụng trong các dịp quan trọng. Chiếc nón có thành thấp hơn được dùng phổ biến khi lao động, chợ búa. Nhưng người xưa không phân loại nón theo chiếc quai đeo vì chiếc quai là bộ phận có thể tháo dời, không gắn chặt vào nón. Nón và quai nón được sản xuất và mua bán, trao đổi như hai mặt hàng riêng. Quai nón ban đầu làm bằng lạt tre, sau thay bằng vải, lụa...


Sở dĩ ngày nay có sự phân biệt về nón Ba tầm và các loại nón lá vành rộng khác là vì từ thập niên 1940, chiếc nón hình chóp, tức nón Trung Kỳ, nón Huế trở nên phổ biến khắp cả nước. Nón Ba tầm và các loại nón lá vành rộng khác đã gần như biến mất ở Bắc Bộ. Nghề làm nón truyền thống ở các làng đã bị đứt đoạn và thất truyền.

Những thế hệ sau đó chỉ còn nghe đến tên Nón Ba tầm, Nón thúng ... qua những câu dân ca hoặc những câu chuyện do người già kể lại . Một sự nhầm lẫn thường gặp là giữa nón ba tầm và nón thúng - một loại nón cũng phổ biến ở Bắc Bộ thời xưa. Nón thúng cũng có dáng tròn, rộng tương tự ba tầm, nhưng sâu lòng hơn và thành nón cong mềm mại hơn chứ không thẳng như Ba tầm. Sở dĩ có tên gọi nón thúng vì nón có hình dạng rất giống chiếc thúng.

Nhiều người chưa phân biệt rõ giữa nón Ba tầm và "nón quai thao". Thực ra, "nón quai thao" chỉ là một cách gọi, một khái niệm chung chung chứ không phải là một loại nón cụ thể. Người xưa phân biệt các loại nón chủ yếu theo - hình dạng của chúng: Nón Ba tầm, nón thúng, nón lòng chảo, nón bứa (trông giống một nửa quả bứa), nón chân tượng (chân voi)... Cùng một loại nón nhưng kích cỡ có thể lớn nhỏ khác nhau.

"Quai thao" là một loại quai nón bằng lụa rất đặc biệt do những người thợ ở làng Đơ Thao, Triều Khúc (Hà Nội) dệt nên. Chiếc quai thao được tết bện, nhuộm rất cầu kì trở thành một loại quai nón cao cấp. Thực tế, chiếc quai thao còn đắt hơn cả chiếc nón. Quai thao có thể kết hợp với nhiều loại nón khác nhau, trong đó rất phổ biến là quai thao kết hợp với nón ba tầm.


Trong dân ca Quan họ "nón quai thao" lại xuất hiện rất nhiều ? :

Từ thời nhà Lý đến nhà Nguyễn các vua chúa hàng năm đều về vùng Kinh bắc tuyển cung tần mỹ nữ, rất nhiều phụ nữ nổi tiếng các triều đại , họ Nguyễn Tôn làng Yên xá có 2 “Liền chị” là Quận Long Công Chúa Triều Thiên và Quế Hoa Công Chúa khi về Yên xá Kinh bắc ngoài những vật dụng khác , như đã nói, Quai thao là một loại trang sức đặc biệt. Bởi sự cầu kì của mình mà chiếc quai thao trở thành chi tiết nổi bật hơn cả ở chiếc nón, và thường được nhắc tới trước tiên "nón quai thao". Nên thường mang nón Quai thao về làm quà và ban thưởng cho họ hàng thân thích,và cũng vì những tính chất, hành động nêu trên mà "nón quai thao" trở thành một khái niệm để chỉ chung những chiếc nón quý, nón lễ hội, trở thành một hình tượng phổ biến trong văn học dân gian thường ẩn dụ cho vẻ đẹp của người con gái Quan họ Kinh bắc .


NÓN QUAI THAO VÀ BA TẦM