Cho thuê áo dài cưới, bưng quả, lễ tân, áo dài chụp ảnh, áo dài cho mẹ, vest nam, việt phục, áo bà ba, trang phục kỷ yếu số lượng lớn nhất TPHCM

Image Slider

Báo giá thuê đồ việt cổ phục

Báo giá  thuê đồ việt cổ phụcBáo giá  thuê đồ việt cổ phục


ÁO NHẬT BÌNH

Set Áo Nhật Bình in hoa văn:
- Áo: vải gấm hoa văn chìm, áo may có 2 lớp vải .
- Bộ ngũ thân mặc bên trong (áo và quần): vải cotton lóng vuông màu trắng
- Khăn vành đóng sẵn màu xanh hoặc vàng
Giá thuê: 400,000 đ

ÁO TẤC NAM NỮ - IN HOA VĂN
Set Áo Tấc in hoa văn:
Áo: vải gấm hoa văn , áo may có 2 lớp vải.
- Quần: cotton lỏng vuông trắng.Khăn đóng màu vàng
Giá thuê: 300,000 đ
ÁO TẤC NAM NỮ - VẢI SA HÀN



Set Áo Tấc vải sa hàn in hoa văn chìm
- Quần: vải cotton lóng vuông màu trắng.
- Khăn đóng màu vàng hoặc đen
- Có nhiều màu để lựa chọn
Giá thuê: 300,000 đ
ÁO TẤC NAM NỮ - VẢI TRƠN



Set Áo Tấc vải trơn

- Áo:vải sa hàn hoặc gấm, áo may có 2 lớp vải
- Quần: vải cotton lóng vuông màu trắng.
- Khăn đóng màu vàng hoặc đen..
- Có nhiều màu để lựa chọn
Giá thuê: 300,000 đ
SET ÁO NGŨ THÂN TAY CHẼN 



Set Áo Ngũ Thân Tay Chẽn :
- Áo: vải sa hàn hoặc vải gấm hoa văn chìm, áo may có 2 lớp vải
- Quần: cotton lóng vuông trắng.
- Khăn vấn đóng màu đen, mấn màu xanh...
Giá thuê: 300,000 đ
SET ÁO NGŨ THÂN TAY CHẼN TRƠN - IN HOA VĂN
Báo giá  thuê đồ việt cổ phục


Set Ngũ Thân Tay Chẽn in hoa văn:
Áo: vải gấm hoa văn , áo may có 2 lớp vải.
- Quần: cotton lỏng vuông trắng.Khăn đóng màu vàng
Giá thuê: 200,000 đ

SET ÁO NGŨ THÂN TAY CHẼN TRƠN



Set Áo Ngũ Thân Tay Chẽn :
- Áo: vải đũi áo may có 1 lớp vải
- Quần: cotton lóng vuông trắng.
- Khăn vấn đóng màu đen, mấn màu xanh...
Giá thuê: 200,000 đ
NẾU THUÊ SỐ LƯỢNG THÌ CÓ GIÁ TỐT HƠN NHÉ CẢ NHÀ

LƯU Ý: TỪ NGÀY THỨ 2 GIÁ THUÊ GIẢM CÒN 50%

Một số lưu ý
Đồ có sẵn rất nhiều bên shop, mời các bạn qua thử trực tiếp và tiến hành đặt cọc thuê đồ.
- Đặt cọc giữ slot thuê là 200k, đặt cọc khi lấy đồ thuê tối thiểu 1-1,5 triệu/bộ và chụp ảnh CMND, sau khi trả đồ, shop sẽ trừ tiền thuê và trả lại cọc
- Shop có sẵn hài và một số phụ kiện như quạt, vòng, không tính vào set đồ thuê nhưng có thể cho mượn.
Các bạn vui lòng qua thử hoặc xin đặt lịch nếu | cần
- Với các khách hàng ở xa, thuê số lượng lớn hoặc thuê dài ngày, đừng ngại inbox shop để nhận thêm các chương trình hỗ trợ về giá nhé.


Địa chỉ: 6 Lê Văn Chí, Thủ Đức, TP HCM
HOTLINE: 0983231116 Cô Sáu
Bất cứ thắc mắc hoặc vấn đề gì cần trao đổi thêm, quý khách đừng ngại ngần hỏi Shop để được tư vấn cụ thể và rõ ràng

Răng đen là tiêu chuẩn cho cái đẹp của người Việt xưa?

Nhuộm răng đen là một phong tục của người Việt xưa, những ai có hàm răng đen bóng đều được cho là đẹp, cho đến vài chục năm trước, tục lệ này vẫn còn khá phổ biến.

Răng đen là tiêu chuẩn cho cái đẹp của người Việt xưa?


Tuy là một phong tục phổ biến của người Việt xưa, nhưng nhiều bộ phim cổ trang Việt rất ít khi để cho các nhân vật xuất hiện với hàm răng đen, trừ các nhân vật cụ bà.

Với quan điểm làm tác phẩm có bối cảnh lịch sử, thì dù nội dung có hư cấu đến đâu, bối cảnh văn hóa, sinh hoạt đều phải giống với lịch sử, nhóm tác giả Long thần tướng đưa nhiều đặc trưng văn hóa người Việt xưa vào. Bộ truyện có bối cảnh thời Trần, nên hầu hết nhân vật đều xăm mình, và nhuộm răng đen.

Duy chỉ có nhân vật chính (Long) được vẽ với hàm răng trắng, và trong truyện hay bị mắng “Cái thằng răng trắng ởn như răng chó”. Nhóm tác giả lý giải họ chủ đích để Long có hàm răng trắng, như một cách tạo ấn tượng cho nhân vật chính.

Trong nhiều cuốn sách viết về văn hóa người Việt xưa đều nhắc tới hàm răng đen như một đặc trưng. Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, viết trong cuốn Việt Nam Văn hóa sử cương, tục nhuộm răng đen có từ cách đây hàng nghìn năm.

Sách dẫn lời Giáo sư Henri Maspéro, cho rằng tục nhuộm răng cũng như tục ăn trầu, dân ta có từ thời đại Văn Lang. “Nhưng hai phong tục ấy không phải phong tục đặc biệt của người Việt Nam, vì người Cao Man, người Ấn Độ, người Mã Lai ăn trầu còn nhiều hơn người Việt Nam, mà răng nhuộm thì ta thấy người Nhật Bản xưa cùng người Mã Lai và ít nhiều giống thổ dân ở Nam Dương quần đảo cũng có tục ấy”, sách Việt Nam Văn hóa sử cương viết.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhuộm răng đen trở thành một phong tục phổ biến, kéo dài cho đến thế kỷ 20.

Nhiều người thường nghĩ rằng người Việt Nam xưa vì ăn trầu cho nên có răng đen. Thực ra tục ăn trầu và tục nhuộm răng không có quan hệ gì với nhau, tuy hai tục ấy đều khiến cho răng thành vững chắc.

Người Việt Nam bất cứ nam nữ, chừng 16, 17 tuổi đều nhuộm răng. Vì những chất dùng để nhuộm răng là những chất nồng và cay, nên môi và lưỡi đều sung, khiến người nhuộm răng phải nhịn cơm và đồ ăn cứng đến nửa tháng; chỉ ăn đồ lỏng (cháo) hoặc đồ không nhai mà dễ nuốt (bún) mà thôi. Trong thời kỳ nhuộm, để cho thuộc ăn chặt vào răng, nên cũng vì lẽ ấy mà phải kiêng nhai đồ cứng.

Thông thường, ở nước ta xưa thì người nào để răng trắng là người bất chính, bị thiên hạ chê cười. Nhưng câu “Răng trắng như răng chó”, “Răng trắng như răng ngô” đều có hàm ý bỉ bạc. Răng đen là một yếu tố của nhan sắc đàn bà con gái.

Những câu ca dao cho thấy giá trị của răng đen như: “Lấy chồng cho đáng tấm chồng/ Bõ công trang điểm má hồng răng đen”, hay “Một thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên/ Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng nhánh hột huyền kém thua”.

Dẫu người đẹp thế nào mà răng không đen nhành thì nhan sắc cũng giảm. Bởi vậy, người Việt Nam xưa, nhất là đàn bà con gái, nhuộm răng rồi còn phải dùng những thuốc gọi là thuốc xỉa để giữ cho răng được luôn luôn đen bóng.

Trong bài hịch của vua Quang Trung khi kéo quân ra Bắc đánh giặc nhà Thanh vào năm 1789 có câu liên quan đến tục nhuộm răng vì đây là một tập tục quan trọng trong văn hóa người Việt: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoà”.

Cho đến năm 1948, khi Hoàng Cầm viết bài thơ Bên kia sông Đuống, tục nhuộm răng đen vẫn còn. Bài thơ có hai câu miêu tả người phụ nữ: “Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng”.

Trên thực tế, từ đầu thế kỷ XX, ở các thành thị lớn của Việt Nam, tục ăn trầu và nhuộm răng đã suy yếu nhiều. Thanh niên nam nữ phần nhiều không ăn trầu, để răng trắng. Phong tục nhuộm răng đen ít đi, dần dần biến mất.

* Răng đen là một trong những tiêu chí đánh giá vẻ đẹp người xưa

ÁO GIAO LÃNH LÀ GÌ

ÁO GIAO LÃNH LÀ GÌ
TRANG PHỤC GIAO LÃNH hay còn gọi là giao lĩnh , cũng được gọi là áo vạt chéo , căn cứ vào hình thể của cổ áo mà đặt tên cho loại áo . Áo giao lĩnh thường có 4 vạt chính và 1 vạt phụ , đối với áo giao lĩnh tay rộng dùng cho tu sĩ Phật Giáo có đến 7 vạt .


 Hiện vật phục dựng đầu tiên chúng ta thấy đó là trang phục Giao Lĩnh Thời Lê được phục dựng theo thể thức bức tranh lụa chân dung Tả thái tử Kiến Trung hầu Thông chương đại phụ Trịnh Đình Kiên ( 1715 - 1786 ) .

áo giao lãnh

Hiện tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ( Hà Nội ) . Với chất liệu vải the voan được phỏng dụng tương tự , giao lĩnh thời Lê trung hưng có cổ áo to bản may nối lại và khoét cổ khá rộng vì bên trong mặt nhiều lớp .
ÁO GIAO LĨNH TAY CHẼN



 Theo hình vẽ người mặc áo giao lĩnh bên ngoài màu đen hoa văn dệt ẩn bên trong mặc áo giao lĩnh lụa đỏ đến áo đen bên trong và trong cùng áo lót lụa trắng , đặc điểm áo giao lĩnh thời Lê giai đoạn này là tà áo khá dài và tay áo rộng , cuối tay áo có may một đường chỉ chặn tay áo tạo thành túi nhỏ , người xưa trao cho nhau vật gì thường bỏ vào tay áo



áo giao linh vs áo nhật bình

Khác nhau áo giao lãnh của các nước
Áo giao lĩnh thời Minh, áo giao lĩnh thời Triều Tiên và áo giao lĩnh thời Nguyễn.

ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

* Đối Khâm (對襟) Chữ Khâm (襟) có nghĩa là vạt áo trước. Đối Khâm là dạng áo có hai vạt trước đặt song song nhau, thường để buông thỏng. Tuỳ vào thời đại, đối khâm còn có những tên như bối tử 褙子 (thời Tống), phi phong (thời Minh), và nhật bình (thời Nguyễn). Mỗi thời đại, kiểu dáng sẽ thay đổi đôi chút. Không như giao lĩnh và viên lĩnh (có 6 thân), hay thụ lĩnh triều Nguyễn (có 5 thân – còn được gọi là ngũ thân), đối khâm chỉ có 4 thân nên dân gian còn gọi là tứ thân
ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?
ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

QUY ĐỊNH VỀ MÀU SẮC VỀ KHĂN NHÀ NGUYỄN


CÁC LOẠI KHĂN NHÀ NGUYỄN SỬ DỤNG
Khăn lươn (còn gọi là khăn chít, rí) là loại khăn phổ biến thời nhà Nguyễn, được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bởi phụ nữ từ nhiều vùng miền, giai cấp khác nhau.
Khăn vành (nếu được đóng sẵn còn gọi là khăn đóng, cái mấn) là loại khăn có tính trang trọng. Khăn vành càng dài, càng dày thì chứng tỏ địa vị xã hội của người vấn khăn càng cao. Mọi người vấn khăn vành vào dịp lễ, như cưới, mừng thọ, vv.
QUY ĐỊNH VỀ MÀU SẮC VỀ KHĂN NHÀ NGUYỄN


KHĂN MÀU VÀNG & HỎA HOÀNG: MÀU CỦA HOÀNG TỘC
Về khăn vành, theo các tài liệu xưa thì khăn vành màu vàng chỉ dành cho thái hậu và hoàng đế. Về khăn chít, theo chia sẻ của họ Lê Thị Dinh, người chăm sóc khăn áo cho Đức thái hậu Từ Cung thì Đức thái hậu cũng dùng khăn chít màu vàng.
Màu hỏa hoàng (màu vàng nghiêng về sắc cam) theo một số tài liệu cho rằng là màu khăn vành của hoàng hậu. Không rõ điều này có chắc chắn hay không, tuy nhiên phượng bào của Nam Phương hoàng hậu có màu hỏa hoàng nên đây cũng là một điều có thể.
MÀU HỒNG: MÀU KHĂN LƯƠN CỦA BÉ GÁI VÀ CÁC CÔ GÁI HÁT QUAN HỌ
Có thông tin trên Wikipedia cho rằng, các bé gái và cô gái hát quan họ xưa có thể sử dụng khăn chít màu hồng.
MÀU ĐỎ: MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Theo Wikipedia, người già có thể vấn khăn vành đỏ vào dịp chúc phúc, mừng thọ
MÀU LỤC: MÀU KHĂN CỦA CÁC THỊ NỮ TRONG CUNG ĐÌNH HUẾ
Có sách về cung đình Huế chép rằng, các thị nữ (nữ quan & cung nữ) trong cung đình Huế dùng khăn màu xanh lục
MÀU LAM: MÀU KHĂN CỦA CÁC BÀ PHI, CÔ DÂU VÀ MÀU KHĂN VÀNH PHỔ BIẾN NHẤT
Ảnh về khăn vành màu lam rất phổ biến, và từ thái hậu, hoàng hậu, công chúa hay các cô dâu, chúng ta đều có tư liệu ảnh họ mang khăn vành màu lam.
MÀU TÍM TAM GIANG: MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Phá Tam Giang ở Huế mỗi khi chiều xuống sẽ có màu nước rất đẹp, người xưa dùng hai chữ "Tam Giang" để đặt tên cho màu tím đó. Đó cũng là màu của hoa chuối tiêu, nên nếu bạn nào không hình dung được có thể xem hình hoa chuối tiêu trong comment.
MÀU NÂU: CŨNG LÀ MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Thông tin theo Wikipedia.
MÀU ĐEN: MÀU KHĂN XẾP CỦA NAM GIỚI, CŨNG LÀ MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Ngoại trừ hoàng đế có thể sử dụng khăn xếp màu vàng, nam giới xưa thường chỉ sử dụng màu đen cho khăn xếp. Ngoài ra, theo Wikipedia, bên cạnh màu đỏ, nâu và tím, các cụ trong lễ chúc phúc, mừng thọ cũng có thể sử dụng khăn vành màu đen.

K H Ă N Á O N Ư Ớ C N A M

Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trải qua các triều đại khác nhau, người Việt đã tạo được những dấu ấn, bản sắc riêng về mọi mặt trong đời sống xã hội. Và trang phục là một trong số những tinh hoa không thể không nhắc đến. Với thời cận đại, Triều Nguyễn là Vương Triều gần nhất để có thể hình dung được cốt cách trang phục làm nên 1 phần Văn hóa nước Nam ta.

1. ÁO

Theo những ghi chép còn sót lại, chiếc áo dài năm thân cổ đứng khuy cài xuất hiện vào năm 1744 dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong. Giữa bối cảnh Trịnh – Nguyễn phân tranh (khoảng thế kỷ XVII, XVIII), vì muốn xây dựng một chính quyền độc lập với chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài nên Chúa Nguyễn đã tiến hành cải cách tổ chức bộ máy hành chính, lễ nhạc, y phục, .v.v. Dựa theo cuốn Tam tài đồ hội của Trung Hoa để chế ra loại trang phục riêng cho tầng lớp quan lại quý tộc, nhân dân Đàng Trong, và được tuân theo. Bên cạnh đó, chính quyền Lê – Trịnh vẫn giữ nguyên trang phục theo lối cũ.

Cho đến tận đầu thế kỷ XIX, vào năm 1802, Thế Tổ Cao Hoàng Đế – vua Gia Long thống nhất toàn bộ đất nước đã đặt lại quy chế mũ áo cho cả nước. Tuy nhiên, hầu hết người Bắc Hà vẫn giữ lối ăn vận xưa trừ quý tộc và quan lại, do đó đến tận năm 1835 – 1837, trong một chuyến kinh lý ra Bắc của vua Minh Mạng, vì chứng kiến thói ăn vận của miền Bắc mà vua chê là hủ lậu nên đã ra lệnh triệt để bắt dân chúng ở đây phải mặc áo dài. Khi người Pháp vào Việt Nam, chiếc áo dài năm thân đã được phổ biến rộng rãi trên cả nước.

Kỹ thuật may áo phụ thuộc vào kỹ thuật dệt vải. Thời xưa, do nhiều yếu tố về khung dệt, chất liệu,… Mà khổ vải dệt ra chỉ có độ dài từ 35 – 55 cm. Do đó để may được hoàn chỉnh một chiếc áo phủ kín thân, người thợ phải may liền các khổ vải với nhau, mỗi khổ vải như vậy gọi là một thân áo.

Áo dài truyền thống thời xưa được may bởi bốn khổ vải gọi là áo tứ thân, áo được ghép bởi năm khổ vải gọi là áo ngũ thân và còn nhiều các loại áo được ghép từ sáu đến chín khổ vải. Phần tay áo, vai và nách áo được áp dụng kỹ thuật may liền tay, phần nối tay nằm ở ngang bắp tay. Tay áo dài được gọi là tay áo chẽn (hay còn gọi là tay búp) ôm sát vào cổ tay.

Đối với mẫu áo dài cổ đứng khuy cài, theo như mô tả của người xưa thì cũng có những quy định như: cổ hình chữ khẩu (口 – cổ vuông đứng) hay còn gọi là trực lĩnh, đường khuy áo hình chữ quảng (广). Đường khuy áo gồm có năm khuy (một khuy nằm ở cổ; một nằm ở bả vai phải, cách cổ 10cm; ba khuy cuối cùng nằm ở bên hông. Đường tà áo hình chữ bát (八 – tà xòe). Tà áo có độ sa, tà trước dài hơn tà sau khoảng 15cm. Chiều dài của tà áo thường chỉ quá gối, cũng có những thay đổi phù hợp với từng miền nhưng chiều dài này không chạm đến mắt cá chân. Cổ áo nam cao hơn và đứng dáng hơn so với cổ áo của nữ (cổ áo của nam cao khoảng 3 – 4cm, cổ áo của nữ cao khoảng 2 – 3cm).

Theo Cổ Nhân truyền tại, đã là người thanh-niên từ 16 tuổi là phải có 1 bộ khăn áo đen chỉnh tề. Mặc áo dài khăn đen nhắc nhở thái độ khoan thai nghiêm chỉnh, không thể lăng xăng nói năng lỗ mãng...

Người xưa, hễ làm việc gì cũng đều có ý-nghĩa và có Dịch-lý. Bộ Áo-dài đàn ông thường-phục xưa thông thường phải theo quy luật:

- Áo-dài được may thể áo Kép - là Áo có lót bên trong vải Tố màu trắng, hoặc có người chọn lót vải gấm màu sặc sỡ bên trong, để thêm trang-trọng và đứng áo. Vì người xưa quan niệm: Những gì sáng láng nhất, sặc sỡ nhất thì ẩn bên trong mới hay, mới quý. Và đó cũng là cái duyên của Áo-dài xưa.

- Áo dài may Ngũ-thân (5 miếng vải ráp lại) - tượng trưng cho Ngũ-hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ). 金 土水 火 木

- Áo may đậu sống lưng chánh giữa - tượng trưng cho song-thân phụ mẫu. (phải nhớ tới song-thân khi mang cái áo này, cho hình hài này)

- Năm cúc áo - tượng trưng cho 5 đức tính của Nho-giáo: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín. 仁禮義智信

- Tà áo trong có 2 sợi dây, gọi là dây Tương-Sinh. Hay còn gọi là dây Âm-Dương. Khi mặc vào, cột 2 dây lại cốt để khi ngồi cho tà áo trong không bị lòi ra. Và 2 dây cột lại cũng có ý nghĩa là Âm-dương hòa hiệp hóa sanh vạn-vật trong càn-khôn vũ-trụ.

- Tà áo trước vạc hình tròn, phía sau vạc hình vuông, trượng trưng cho Trời-Đất (quẻ Càn ☰ 乾), (quẻ Khôn ☷ 坤).

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có trang phục truyền thống mà chỉ cần nhìn cách phục sức của họ, chúng ta có thể nhận biết họ thuộc quốc gia nào, thể hiện bản sắc văn hóa ra sao? Nếu người Nhật Bản có Kimono, người Hàn Quốc có Hanbok… thì người Việt Nam lại hãnh diện khi mang trên mình chiếc Áo dài. Theo dòng chảy của lịch sử, chiếc Áo dài đã có nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn của xã hội. Thế nhưng, dẫu thay đổi thế nào đi chăng nữa, áo dài vẫn luôn là biểu tượng của vẻ đẹp, văn hóa và là niềm tự hào của hàng triệu người con đất Việt.

2. KHĂN

Thiên Quan nghĩa trong Kinh Lễ có câu: “Phàm người mà có thể là người cho đúng nghĩa là nhờ lễ nghĩa, mà mở đầu của lễ nghĩa là ở dung thể được đoan chính, nhan sắc được trang nghiêm, lời nói được cung thuận. Dung thể đoan chính, nhan sắc trang nghiêm, lời nói cung thuận thì sau lễ nghĩa mới đầy đủ, để chính đạo vua tôi, thân đạo cha con, hòa đạo lớn nhỏ. Đạo vua tôi chính, đạo cha con thân, đạo lớn nhỏ hòa rồi sau lễ nghĩa mới lập. Cho nên đội mũ rồi sau trang phục mới đầy đủ, trang phục đầy đủ rồi sau dung thể mới đoan chính, nhan sắc mới trang nghiêm, lời nói mới cung thuận. Cho nên nói rằng lễ đội mũ là mở đầu của lễ, vì thế thánh vương thời cổ rất coi trọng lễ đội mũ”.

Khăn xếp được coi như là một phụ kiện của áo năm thân thời Nguyễn. Khăn xếp là đặc trưng của nhà Nguyễn, cùng với “áo the” làm nên ấn tượng sâu đậm của người Việt ngày nay khi nghĩ đến trang phục truyền thống của cha ông. Tên gọi khăn xếp/ khăn lượt có lẽ xuất phát từ cách vấn khăn, các vòng nối tiếp từng lượt một xếp chồng lên nhau.

Dựa theo những tư liệu tranh ảnh đầu tk 20, khăn xếp thường đi cùng với áo dài ngũ thân tay chẽn với vai trò là bộ tiện phục mặc thường ngày, được sử dụng rộng rãi từ vua quan đến bình dân. Có lúc người xưa mặc áo tấc, đội khăn xếp như một bộ trang phục công vụ hoặc lễ phục dùng trong những nghi lễ tại gia đình và làng xã. Một số hình ảnh để lại cho thấy cũng có khi khăn xếp được đi cùng chiếc áo giao lĩnh.

Khăn lượt thường là màu đen, vì Người xưa quan điểm vào đời "hỗn mang chi sơ, vị phân thiên địa", lúc đó cái đại thể của vũ trụ còn mờ mờ mịt mịt, tăm tối chỉ một màu đen huyền mờ tối vậy. Từ khi phân định trời tròn, đất vuông, người xưa cũng dựa trên sự căn bản đó mà làm ra cái khăn vấn xưa thường lấy màu đen làm trọng, cái màu ban sơ của vũ-trụ, cái màu đó có thể chứa chấp, dung hòa các màu khác của nhân sinh, dáng tròn tượng trưng cho trời cao, có cạnh vuông tượng-trưng cho đất rộng vậy, đó cũng đặng là cái hoài bảo lớn lao "đỉnh thiên lập địa" của bậc tượng-phu, hảo hán.

- Về Khăn chữ Nhất (–): trên cơ sở dụng Nho giáo trong trị quốc, thì không thể không nhắc tới Đức Khổng Tử, Khăn chữ Nhất phát sinh từ câu: «Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi» 吾 道 一 以 貫 之 (Luận Ngữ, 4, 15): nghĩa là Đạo ta, có thể thâu tóm bằng chữ Nhất. Như vậy, Nhất đây là thuyết: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. Chữ Nhất (–) chỉ có một nét ngang rất dễ nhớ nên khi lồng vào cái khăn, đội ở trên đầu, để ai ai cũng luôn nhớ, và nếu không trông thấy được ở trên đầu mình, thì cũng nom thấy chữ Nhất ấy trên trán của mọi người xung quanh. Như vậy, ai đã nom thấy chữ Nhất, đã đặt chữ Nhất trên đầu, thì phải nhớ ngay đến bốn chữ Nhất Di Quán Chi| 一 以 貫 之 Đạo chỉ có một mà bao trùm tất cả, thực là cao siêu rộng lớn, vô thỉ vô chung, cả đất với sông núi, cỏ cây, rừng sâu biển rộng, và cả loài Người, khôn ngoan, sáng láng đứng đầu trên vạn vật. Hiểu thấu được cái Đạo bao trùm cả Thiên-Địa-Nhân thì con người sẽ hoàn toàn siêu việt đạt tới Chân-Thiện-Mỹ. Cho nên Vua chúa hay con dân nước Nam đội trên đầu cái khăn chữ Nhất để nhắc nhở từ Quân Vương trở xuống phải theo cái Đạo Nhất Di Quán Chi cao cả ấy, lấy giang sơn làm trọng, lấy dân tộc làm quý, và phải lo cho nước mạnh dân giàu.

- Về Khăn chữ Nhân (人): Nhân là Người, mà đã là Người, vẫn theo nền tảng Nho gia, thì muốn xứng đáng làm con người thì phải có Tam Cương (Quân-Sư-Phụ) và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín). Tiền nhân của chúng ta đội cái khăn chữ Nhân ở ngay giữa trán trên đầu, nơi cao quý nhất của một thân người, là có ý nhắc nhở ai nấy, lúc nào cũng phải xử sự cho ra con người, lấy Tam Cương và Ngũ Thường làm căn bản. Bởi vì, giữa mọi người với nhau cho dù ở tầng lớp nào, trình độ nào thì nếu có Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín, thì làm gì còn có những chuyện hà hiếp bóc lột lẫn nhau, thì làm gì còn có những chuyện lừa thầy phản bạn, bội nghĩa vong ân, trốn chúa lộn chồng, bỏ vợ lìa con. Một xã hội nói riêng mà cả nhân loại nói chung, có Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín, thì hẳn lúc nào cũng an lành vui vẻ, làm gì có chuyện chiến tranh khốc liệt, thế giới sẽ hoàn toàn hạnh phúc và hòa bình.

3. KẾT

Người đời nay ham thích những cái hào nhoáng cho là trẻ trung năng động, rất ít ai xử dụng và còn hiểu đúng cái bộ quốc-phục cho chính thống. Văn hóa xưa, cổ phong nước nhà dần mai một cũng bởi thái độ, suy nghĩ rời xa quá khứ, hiện đại hóa đến mức làm mất dần bản sắc của dân tộc. Hy vọng cùng vớn làn sóng phục dựng có phần tích cực, mạnh mẽ như hiện nay sẽ dần làm sống lại Văn hóa xưa, tái hiện được vẻ đẹp tú lệ của Khăn Áo nước Nam ta, vốn làm nên bản sắc ngàn đời của Cha Ông đã gìn công gắng sức đánh đổi bằng xương máu mới gây cơ dựng nghiệp được.

Nguồn: Cậu Trung

Sách ngàn năm áo mũ


Ngàn năm áo mũ là một nghiên cứu công phu và đầy tham vọng của Trần Quang Đức: dựng lại bức tranh trang phục Việt Nam trong cung đình và ngoài dân gian trong khoảng một nghìn năm từ thời Lý đến thời Nguyễn (1009-1945).
Sách ngàn năm áo mũ


Trang phục cung đình luôn được quy định nghiêm ngặt và có nhiều đổi thay qua các triều đại. Ngàn năm áo mũ lý giải nguyên do và phân tích mức độ mô phỏng trang phục Trung Hoa trong quy chế trang phục của các triều đại Việt Nam, mô tả chi tiết, tỉ mỉ nhiều dạng trang phục như bộ Tế phục Cổn Miện uy nghi của các vị hoàng đế, các bộ Triều phục, Thường phục Lương quan, Củng Thần, Ô Sa, Bổ phục trang trọng của bá quan, hay Lễ phục Vĩ Địch, Phượng quan lộng lẫy của hoàng hậu v.v..

Trong khi đó trang phục dân gian không biến động nhiều, phổ biến là kiểu áo giao lĩnh, tứ thân, hay lối ăn mặc cởi trần đóng khố của đàn ông và yếm, váy giản tiện của đàn bà tồn tại qua hàng trăm năm lịch sử. Sự kiện vua Minh Mạng cấm “quần không đáy” là một biến cố lớn lao, để rồi chiếc áo dài năm thân đi vào đời sống dân gian và bây giờ trở thành trang phục quan trọng bậc nhất của người Việt.

Có thể nói, Ngàn năm áo mũ bù đắp phần nào vào khoảng trống mênh mông của lịch sử trang phục Việt Nam nói riêng, lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung. Cùng với những ý nghĩa chính trị, xã hội sâu rộng, đây thực sự là một nghiên cứu quan trọng và có giá trị lâu dài.


Phụ kiện trang trí cho áo ngũ thân

Khi mặc áo ngũ thân, phụ nữ có thể trang trí nút áo ngũ thân bằng bội, bài & tiền. Bội, bài và tiền có thể làm bằng vàng (kim), ngọc, bạc (ngân) hoặc ngà. Từ đó, chúng ta có thể miêu tả chúng như kim bội, kim tiền, kim bài, ngọc bội, ngân tiền, ngà bài...

Về chữ khắc trên đó, bội thường khắc chữ hai mặt, một mặt là "Quỳnh dao vĩnh hảo", nghĩa là vĩnh viễn tốt đẹp như quỳnh & dao, hai loại ngọc quý, mặt còn lại khắc niên đại được chế tạo của bội (Khải Định niên tạo, ví dụ). Về bài, chúng thường khắc thân phận hoặc chức vụ của người đeo. Chữ khắc trên tiền khá đa dạng, có thể là niên đại được đúc (ví dụ, Minh Mạng thông bảo) hay mỹ từ (ví dụ Phúc lộc thọ khang).


Phía dưới bội - bài - tiền là kim tòng, còn gọi là thuỳ anh huyền bội. Chúng có thể đơn giản được kết bằng vải, hoặc bằng ngọc mã não, vv

Bài viết nếu có điểm nào sai sót mong mọi người chỉ ra. Mong rằng các bạn có thể cố gắng sử dụng bội - bài - tiền khi trang trí cúc áo, thay vì sử dụng áp khâm vốn là đặc trưng của nhà Thanh và không có trong lịch sử Việt Nam.
Kim tiền & kim bội

10 địa điểm chụp ảnh việt phục đẹp tại TPHCM


Tình hình một số bạn chưa biết chổ để chụp cổ phong đẹp, mị mạn phép đưa ra một số địa điểm( chủ yếu miền Nam) để mấy bạn tham khảo nha.



1. Tu viện Khánh An
2. Bảo tàng thuốc 
3. Lăng ông bà Chiểu
4. Tu viện Vĩnh nghiêm
5. Chùa bà thiên hậu Q5
6. Nhà cổ - Nhà chú Hoả
7. Khu du lịch Bến Xưa
8. Bảo tàng áo dài Tp-HCM
9.Chùa một cột Thủ đức
10.Chùa thái Q9

Trang phục dân thường thời Trần

1) Y phục

Tới thời Trần trang phục dân gian của nước ta vẫn tiếp nối các loại trang phục dân gian của thời Lý và còn phát triển hơn nữa

Trong "An Nam chí lược" Lê Tắc viết: " Vương hầu và thứ dân thường mặc áo cổ tròm, thường bằng màu đen huyền, quần bằng là trắng, hài chuộng loại bằng da"

Sứ thần nhà Nguyên Trần Cương Trung trong Sứ Giao thi tập miêu tả:" Người trong nước đều mặc màu đen, áo đen có bốn vạt, cổ tròn bằng là. Phụ nữ cũng mặc áo đen, song áo trắng bên trong lộ rõ ra ngoài, ôm lấy cổ, rộng bốn tấc là khác biệt. Các màu xanh, đỏ, vàng, tía tuyệt nhiên không có" hoặc "Dân đều đi chân đất (...) da chân họ rất dày, leo núi như bay, gai góc cũng không sợ"



Uông Đại Uyên người Nguyên trong Đảo di chí lược miêu tả người Việt hạng giàu có khá giả :" Mặt trắng răng đen, thắt đai, đội mũ, mặc áo Đường, có áo trùm bên ngoài màu đen, tất tơ giày vuông (...) khi ở nhà họ để đầu trần, thấy khách thì đội mũ, đi đâu xa thì một người bưng mũ mang theo (...) thứ dân ngày thường ở nhà không đội mũ"

Về chất liệu may trang phục trong "An Nam chí nguyên", tác giả Trung Quốc Cao Trùng Hưng thời Minh có đưa ra ghi nhận:" Vải vóc nước ấy (Nước ta thời cuối Trần - đầu hồ Hồ) thì có các loại the Cát Liễu, the hoa tim táo sợi thẳng, the hợp, lụa bóng bông, ỷ (Loại the lụa có hoa bóng chằng chịt, không dùng sợi thẳng), lĩnh, là, hài tơ khá lạ mà tốt. Hai thứ gai, tơ chuối thì được chắp lại làm vải, mịn như lụa nõn, rất hợp mặc vào mùa hè"
Có thấy rõ tục đi chân đất, nhuộm răng đen của người nước ta vẫn tiếp tục tồn tại

Trang phục nam

Có thể thấy kiểu áo cổ tròn 4 vạt thời Lý tới thời Trần vẫn được sử dụng, và kiểu áo này thậm chí còn được dùng tới tận thời Lê - Trịnh nữa (Xem thêm phần trang phục thường dân thời Lý để biết rõ)



Tranh vẽ áo vạt dài cổ tròn Trần ( Cả thời Lý nữa ) Nguồn từ "Đại Việt Cổ Phong" vẽ bởi Lục Bình

Tuy nhiên dựa vào bức tranh "Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ" có thể thấy người Việt thời Trần không chỉ mặc mỗi loại áo cổ tròn bốn vạt mà mặc cả áo giao lĩnh vạt chéo nữa



Áo cổ tròn 4 vạt của các quan thời Trần trong "Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ"



Cũng trong bức "Trúc lâm đại sĩ xuất sơn đồ" áo giao lĩnh vẫn xuất hiện

Ngoài ra nếu để ý kỹ bức tranh những người mặc áo giao lĩnh vạt chéo khênh võng đón Phật hoàng Trần Nhân Tông có thể thấy họ không mặc quần dài, đây chính là minh chứng rõ nhất cho tục đóng khố rồi mặc trùm áo giao lĩnh ra ngoài của đàn ông Việt Nam, tục này duy trì tới tận cuối thế kỷ 17
Ngoài ra Cu Khứ Phi trong "Lĩnh ngoại đại đáp" từng ghi rằng người Việt thời Lý có :" Lấy cao thơm chuốt tóc như sơn, bọc khăn the đen, đỉnh tròn và nhỏ, từ trán trở lên lên, nếp gấp nhỏ như may lên đến tận chóp"

Như vậy thời Lý ngời Việt cũng có tục vấn khăn tuy nhiên không phải kiểu vấn khăn xếp giống thời nhà Nguyễn vì kiểu vấn khăn đó chỉ xuất hiện quãng cuối thế kỷ 17 (Đoạn này mình định đưa vào hời Lý nhưng cuối cùng xếp vào vào thời Trần vì y phục thường dân 2 thời rất giống nhau)



Búi tóc chuy kế (Búi tó, búi củ hành...) rồi vấn khăn thời Nguyễn, đây không phải dạng vấn khăn như thời Lý - Trần



Minh họa về trang phục thời Trần lấy từ "Đại Việt cổ phong" tuy trên tranh ghi là trang phục thời Lý nhưng cách ăn mặc này thời Trần cũng vẫn dùng được nên mình lấy nó minh họa, kiểu vấn khăn thời Lý được vẽ ở tranh này khá hợp lý, nó bọc kín đầu chứ không để hở như thời Nguyễn có điều lại vấn lỏng chứ không chặt



Tranh trong "Tam tài đồ hội"(Thế kỷ 15) miêu tả người nước ta, có thể dễ dàng nhận thấy kiểu ăn mặc đóng khố mặc áo dài vẫn được duy trì



Cách ăn mặc của đàn ông Việt Nam rất gióng của Nhật, mọi người có thể thấy trong bức tranh của họa sĩ Utagawa Hiroshige (歌川 広重 - Ca Xuyên Quảng Trọng ) (1797 – 1858) những nhân vật trong tranh có người mặc áo dài nhưng đóng khố. đây là kiểu mặc trong những ngày nóng vừa để tiện lao động



Về trang phục nữ

Thông qua các miêu tả có thể thấy trang phục nữ thời Trần vẫn là dạng áo cổ tròn 4 vạt đi với thường và váy hoặc áo giao lĩnh vạt chéo đi với thường và váy (Xem lại phần trang phục nữ thời Lý phần trước ) 2 dạng trang phục này của nữ như đã viết còn được dùng tới tận cuối thời Lê - Trịnh




Phụ nữ Việt thời Lê Trung Hưng trong tranh "Văn quan vinh quy đồ" mọi người có thể thấy rõ kiểu dáng trang phục áo cổ tròn 4 vạt đi với thường + váy từ thời Trần vẫn còn tới thời này




Trang phục áo cổ tròn 4 vạt quây thường lấy sắc đen làm chính của phụ nữ thời Trần (Tranh vẽ lilsuika trên blog cá nhân, vẽ thế này chưa chuẩn lắm vì đời Trần hạn chế dân dùng màu đỏ, sắc áo chủ yếu là tối màu, thêm vào đó tranh chú thích là thời Lê, cái này thì đúng nhưng trang phục này có sự kế thừa từ thời Lý Trần nên mình vẫn đưa vào )

Thêm vào đó có một chi tiết trong "An Nam chí lược" đã được dẫn ở phần trước xin nhắc lại : "Thường phục coi màu trắng là cao quý, người trong nước mặc màu trắng bị coi là tiếm chế, riêng phụ nữ không cấm"
Tức là phụ nữ nước ta thời Trần cũng chuộng mặc màu trắng, không e sợ

"Đại Việt sử ký toàn thư" có ghi năm 1291 khi Trần Thánh Tông mất, Anh Tông có nói với sứ nhà Nguyên:" Ta để cha, mặc áo đen, ăn rau cỏ, trai giới trong năm năm"

Trong "Minh thực lục" có ghi chép lời của Giao Chỉ Bố chính ty Lư Văn Chính tâu lên năm 1419 (Lúc này nước ta đang dưới thời Minh thuộc) :" Người Giao chỉ khi cha mẹ mất chỉ mặc áo đen. Xin đem tang lễ do quốc triều đặt định ban bố cho khắp dân gian, để họ biết"

Xem thế đủ biết nước ta thời Lý - Trần trang phục lúc để tang chủ yếu là màu đen, ít dùng màu trắng nên người ta mặc đồ trắng thoải mái không cho đó là điểm gở

Ngoài ra chúng ta qua các sản phẩm nghệ thuật thời Trần hoặc liên quan tới thời Trần cũng có thêm chút hiểu biết về trang phục phụ nữ quý tộc thời này

Trước hết cần phải nói trang phục thời Lý - Trần của phụ nữ quý tộc cũng như các dạng trang phục khác đều chịu ảnh hưởng của trang phục đời Đường - Tống
Phụ nữ quý tộc thời Đường Tống vẫn mặc dạng trang phục chủ đạo là áo giao lĩnh + váy + thường tuy nhiên cách kết hợp khác dân thường, quần áo thường bằng chất vải mỏng chờm nhiều lớp, chiếc Thường mà phụ nữ quý tộc Đường - Tống mặc rất dài, được mặc trùm lên váy, thay vì thắt đai lưng ở eo họ lại thắt cao hơn ở gần ngực, ngoài ra họ có thể mặc ngoài một áo giao lĩnh vạt chéo mỏng tạo nên vẻ thướt tha yểu điệu vừa tôn dáng người phồn thực vốn là chuẩn vẻ đẹp Đường - Tống



Phụ nữ quý tộc thời Đường trong bức Trâm Anh nữ sĩ đồ của Chu Phưởng



Các cung nữ thời Tống trong Đảo luyện đồ của Hoàng đế Tống Huy Tông

Cách phục trang này ảnh hưởng tới phụ nữ quý tộc thời Lý - Trần



Hình trên là pho tượng tại bảo tàng Bruxelles của Bỉ, được xác định niên đại là vào thời Trần, xuất hiện trong phim tài liệu "Đi tìm trang phục Việt", trang phục được cho là của phụ nữ quý tộc đời Trần



Bản vẽ phục dựng lại bộ trang phục trên tượng trong phim tài liệu "Đi tìm trang phục Việt" bản vẽ này không ổn lắm vì vẽ không rõ trang phục thuộc dạng gì



Bản phục dựng với trang phục và người mẫu thật trong cùng phim tài liệu trên thì đỡ hơn vì cơ bản thể hiện được trang phục tuy nhiên quên mất cái Thường



Bản vẽ của lilsuika (Trên blog cá nhân) cũng được vì đã vẽ khá chuẩn trang phục thời Trần với áo 4 vạt kết hợp với thường tuy nhiên nét vẽ cổ áo mặc ngoài chưa rõ ràng không đủ để phân biệt là giao lĩnh vạt chéo



Cũng là tranh vẽ của lilsuika, bức tranh trên được chú thích là tranh vẽ từ tượng bà chúa Mạc tức là thế kỷ 15 - 16, tuy nhiên cách ăn vận thế này rõ ràng ảnh hưởng kiểu ăn mặc của nữ quý tộc đời Đường - Tống, phụ nữ qúy tộc đời Lý - Trần cũng mặc, đời sau tiếp thu theo

Ngoài ra cũng trong bộ phim tài liệu "Đi tìm trang phục Việt" có khai thác hình tượng các vũ công và tiên nữ được khắc và vẽ trong đình Lỗ Hạnh tại Hiệp Hòa - Bắc Giang, đình Lỗ Hạnh được xây vào nửa cuối đời Trần và được trùng tu vào thời Mạc, bởi thế trang phục được miêu tả chưa chắc đã là thời Trần
Tuy nhiên cứ theo thần phả thì đợt trùng tu thời Mạc không đến nỗi đập sạch đi làm lại từ đầu kiến trúc gốc mà chỉ cơi nới sửa chữa, vậy cũng có thể đưa thêm tư liệu này vào đây để tham khảo với tư cách là trang phục của nữ quý tộc hoặc các ca vũ thời Trần






Cột kèo chạm gỗ hình vũ công (Trên) và bức tranh sơn ta miêu tả tiên nữ chơi nhạc (Dưới) trong đình Lỗ Hạnh



Bản phục dựng của lilsuika