Cho thuê áo dài cưới, bưng quả, lễ tân, áo dài chụp ảnh, áo dài cho mẹ, vest nam, áo bà ba, trang phục kỷ yếu số lượng lớn nhất TPHCM

Image Slider

ÁO GIAO LÃNH LÀ GÌ

ÁO GIAO LÃNH LÀ GÌ
TRANG PHỤC GIAO LÃNH hay còn gọi là giao lĩnh , cũng được gọi là áo vạt chéo , căn cứ vào hình thể của cổ áo mà đặt tên cho loại áo . Áo giao lĩnh thường có 4 vạt chính và 1 vạt phụ , đối với áo giao lĩnh tay rộng dùng cho tu sĩ Phật Giáo có đến 7 vạt .


 Hiện vật phục dựng đầu tiên chúng ta thấy đó là trang phục Giao Lĩnh Thời Lê được phục dựng theo thể thức bức tranh lụa chân dung Tả thái tử Kiến Trung hầu Thông chương đại phụ Trịnh Đình Kiên ( 1715 - 1786 ) .

áo giao lãnh

Hiện tranh đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ( Hà Nội ) . Với chất liệu vải the voan được phỏng dụng tương tự , giao lĩnh thời Lê trung hưng có cổ áo to bản may nối lại và khoét cổ khá rộng vì bên trong mặt nhiều lớp .

 Theo hình vẽ người mặc áo giao lĩnh bên ngoài màu đen hoa văn dệt ẩn bên trong mặc áo giao lĩnh lụa đỏ đến áo đen bên trong và trong cùng áo lót lụa trắng , đặc điểm áo giao lĩnh thời Lê giai đoạn này là tà áo khá dài và tay áo rộng , cuối tay áo có may một đường chỉ chặn tay áo tạo thành túi nhỏ , người xưa trao cho nhau vật gì thường bỏ vào tay áo

Khác nhau áo giao lãnh của các nước
Áo giao lĩnh thời Minh, áo giao lĩnh thời Triều Tiên và áo giao lĩnh thời Nguyễn.

ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

* Đối Khâm (對襟) Chữ Khâm (襟) có nghĩa là vạt áo trước. Đối Khâm là dạng áo có hai vạt trước đặt song song nhau, thường để buông thỏng. Tuỳ vào thời đại, đối khâm còn có những tên như bối tử 褙子 (thời Tống), phi phong (thời Minh), và nhật bình (thời Nguyễn). Mỗi thời đại, kiểu dáng sẽ thay đổi đôi chút. Không như giao lĩnh và viên lĩnh (có 6 thân), hay thụ lĩnh triều Nguyễn (có 5 thân – còn được gọi là ngũ thân), đối khâm chỉ có 4 thân nên dân gian còn gọi là tứ thân
ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?
ÁO ĐỐI KHÂM LÀ GÌ?

QUY ĐỊNH VỀ MÀU SẮC VỀ KHĂN NHÀ NGUYỄN


CÁC LOẠI KHĂN NHÀ NGUYỄN SỬ DỤNG
Khăn lươn (còn gọi là khăn chít, rí) là loại khăn phổ biến thời nhà Nguyễn, được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bởi phụ nữ từ nhiều vùng miền, giai cấp khác nhau.
Khăn vành (nếu được đóng sẵn còn gọi là khăn đóng, cái mấn) là loại khăn có tính trang trọng. Khăn vành càng dài, càng dày thì chứng tỏ địa vị xã hội của người vấn khăn càng cao. Mọi người vấn khăn vành vào dịp lễ, như cưới, mừng thọ, vv.
QUY ĐỊNH VỀ MÀU SẮC VỀ KHĂN NHÀ NGUYỄN


KHĂN MÀU VÀNG & HỎA HOÀNG: MÀU CỦA HOÀNG TỘC
Về khăn vành, theo các tài liệu xưa thì khăn vành màu vàng chỉ dành cho thái hậu và hoàng đế. Về khăn chít, theo chia sẻ của họ Lê Thị Dinh, người chăm sóc khăn áo cho Đức thái hậu Từ Cung thì Đức thái hậu cũng dùng khăn chít màu vàng.
Màu hỏa hoàng (màu vàng nghiêng về sắc cam) theo một số tài liệu cho rằng là màu khăn vành của hoàng hậu. Không rõ điều này có chắc chắn hay không, tuy nhiên phượng bào của Nam Phương hoàng hậu có màu hỏa hoàng nên đây cũng là một điều có thể.
MÀU HỒNG: MÀU KHĂN LƯƠN CỦA BÉ GÁI VÀ CÁC CÔ GÁI HÁT QUAN HỌ
Có thông tin trên Wikipedia cho rằng, các bé gái và cô gái hát quan họ xưa có thể sử dụng khăn chít màu hồng.
MÀU ĐỎ: MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Theo Wikipedia, người già có thể vấn khăn vành đỏ vào dịp chúc phúc, mừng thọ
MÀU LỤC: MÀU KHĂN CỦA CÁC THỊ NỮ TRONG CUNG ĐÌNH HUẾ
Có sách về cung đình Huế chép rằng, các thị nữ (nữ quan & cung nữ) trong cung đình Huế dùng khăn màu xanh lục
MÀU LAM: MÀU KHĂN CỦA CÁC BÀ PHI, CÔ DÂU VÀ MÀU KHĂN VÀNH PHỔ BIẾN NHẤT
Ảnh về khăn vành màu lam rất phổ biến, và từ thái hậu, hoàng hậu, công chúa hay các cô dâu, chúng ta đều có tư liệu ảnh họ mang khăn vành màu lam.
MÀU TÍM TAM GIANG: MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Phá Tam Giang ở Huế mỗi khi chiều xuống sẽ có màu nước rất đẹp, người xưa dùng hai chữ "Tam Giang" để đặt tên cho màu tím đó. Đó cũng là màu của hoa chuối tiêu, nên nếu bạn nào không hình dung được có thể xem hình hoa chuối tiêu trong comment.
MÀU NÂU: CŨNG LÀ MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Thông tin theo Wikipedia.
MÀU ĐEN: MÀU KHĂN XẾP CỦA NAM GIỚI, CŨNG LÀ MÀU KHĂN VÀNH CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO DỊP CHÚC PHÚC, MỪNG THỌ
Ngoại trừ hoàng đế có thể sử dụng khăn xếp màu vàng, nam giới xưa thường chỉ sử dụng màu đen cho khăn xếp. Ngoài ra, theo Wikipedia, bên cạnh màu đỏ, nâu và tím, các cụ trong lễ chúc phúc, mừng thọ cũng có thể sử dụng khăn vành màu đen.

K H Ă N Á O N Ư Ớ C N A M

Trong suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trải qua các triều đại khác nhau, người Việt đã tạo được những dấu ấn, bản sắc riêng về mọi mặt trong đời sống xã hội. Và trang phục là một trong số những tinh hoa không thể không nhắc đến. Với thời cận đại, Triều Nguyễn là Vương Triều gần nhất để có thể hình dung được cốt cách trang phục làm nên 1 phần Văn hóa nước Nam ta.

1. ÁO

Theo những ghi chép còn sót lại, chiếc áo dài năm thân cổ đứng khuy cài xuất hiện vào năm 1744 dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong. Giữa bối cảnh Trịnh – Nguyễn phân tranh (khoảng thế kỷ XVII, XVIII), vì muốn xây dựng một chính quyền độc lập với chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài nên Chúa Nguyễn đã tiến hành cải cách tổ chức bộ máy hành chính, lễ nhạc, y phục, .v.v. Dựa theo cuốn Tam tài đồ hội của Trung Hoa để chế ra loại trang phục riêng cho tầng lớp quan lại quý tộc, nhân dân Đàng Trong, và được tuân theo. Bên cạnh đó, chính quyền Lê – Trịnh vẫn giữ nguyên trang phục theo lối cũ.

Cho đến tận đầu thế kỷ XIX, vào năm 1802, Thế Tổ Cao Hoàng Đế – vua Gia Long thống nhất toàn bộ đất nước đã đặt lại quy chế mũ áo cho cả nước. Tuy nhiên, hầu hết người Bắc Hà vẫn giữ lối ăn vận xưa trừ quý tộc và quan lại, do đó đến tận năm 1835 – 1837, trong một chuyến kinh lý ra Bắc của vua Minh Mạng, vì chứng kiến thói ăn vận của miền Bắc mà vua chê là hủ lậu nên đã ra lệnh triệt để bắt dân chúng ở đây phải mặc áo dài. Khi người Pháp vào Việt Nam, chiếc áo dài năm thân đã được phổ biến rộng rãi trên cả nước.

Kỹ thuật may áo phụ thuộc vào kỹ thuật dệt vải. Thời xưa, do nhiều yếu tố về khung dệt, chất liệu,… Mà khổ vải dệt ra chỉ có độ dài từ 35 – 55 cm. Do đó để may được hoàn chỉnh một chiếc áo phủ kín thân, người thợ phải may liền các khổ vải với nhau, mỗi khổ vải như vậy gọi là một thân áo.

Áo dài truyền thống thời xưa được may bởi bốn khổ vải gọi là áo tứ thân, áo được ghép bởi năm khổ vải gọi là áo ngũ thân và còn nhiều các loại áo được ghép từ sáu đến chín khổ vải. Phần tay áo, vai và nách áo được áp dụng kỹ thuật may liền tay, phần nối tay nằm ở ngang bắp tay. Tay áo dài được gọi là tay áo chẽn (hay còn gọi là tay búp) ôm sát vào cổ tay.

Đối với mẫu áo dài cổ đứng khuy cài, theo như mô tả của người xưa thì cũng có những quy định như: cổ hình chữ khẩu (口 – cổ vuông đứng) hay còn gọi là trực lĩnh, đường khuy áo hình chữ quảng (广). Đường khuy áo gồm có năm khuy (một khuy nằm ở cổ; một nằm ở bả vai phải, cách cổ 10cm; ba khuy cuối cùng nằm ở bên hông. Đường tà áo hình chữ bát (八 – tà xòe). Tà áo có độ sa, tà trước dài hơn tà sau khoảng 15cm. Chiều dài của tà áo thường chỉ quá gối, cũng có những thay đổi phù hợp với từng miền nhưng chiều dài này không chạm đến mắt cá chân. Cổ áo nam cao hơn và đứng dáng hơn so với cổ áo của nữ (cổ áo của nam cao khoảng 3 – 4cm, cổ áo của nữ cao khoảng 2 – 3cm).

Theo Cổ Nhân truyền tại, đã là người thanh-niên từ 16 tuổi là phải có 1 bộ khăn áo đen chỉnh tề. Mặc áo dài khăn đen nhắc nhở thái độ khoan thai nghiêm chỉnh, không thể lăng xăng nói năng lỗ mãng...

Người xưa, hễ làm việc gì cũng đều có ý-nghĩa và có Dịch-lý. Bộ Áo-dài đàn ông thường-phục xưa thông thường phải theo quy luật:

- Áo-dài được may thể áo Kép - là Áo có lót bên trong vải Tố màu trắng, hoặc có người chọn lót vải gấm màu sặc sỡ bên trong, để thêm trang-trọng và đứng áo. Vì người xưa quan niệm: Những gì sáng láng nhất, sặc sỡ nhất thì ẩn bên trong mới hay, mới quý. Và đó cũng là cái duyên của Áo-dài xưa.

- Áo dài may Ngũ-thân (5 miếng vải ráp lại) - tượng trưng cho Ngũ-hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ). 金 土水 火 木

- Áo may đậu sống lưng chánh giữa - tượng trưng cho song-thân phụ mẫu. (phải nhớ tới song-thân khi mang cái áo này, cho hình hài này)

- Năm cúc áo - tượng trưng cho 5 đức tính của Nho-giáo: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín. 仁禮義智信

- Tà áo trong có 2 sợi dây, gọi là dây Tương-Sinh. Hay còn gọi là dây Âm-Dương. Khi mặc vào, cột 2 dây lại cốt để khi ngồi cho tà áo trong không bị lòi ra. Và 2 dây cột lại cũng có ý nghĩa là Âm-dương hòa hiệp hóa sanh vạn-vật trong càn-khôn vũ-trụ.

- Tà áo trước vạc hình tròn, phía sau vạc hình vuông, trượng trưng cho Trời-Đất (quẻ Càn ☰ 乾), (quẻ Khôn ☷ 坤).

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có trang phục truyền thống mà chỉ cần nhìn cách phục sức của họ, chúng ta có thể nhận biết họ thuộc quốc gia nào, thể hiện bản sắc văn hóa ra sao? Nếu người Nhật Bản có Kimono, người Hàn Quốc có Hanbok… thì người Việt Nam lại hãnh diện khi mang trên mình chiếc Áo dài. Theo dòng chảy của lịch sử, chiếc Áo dài đã có nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn của xã hội. Thế nhưng, dẫu thay đổi thế nào đi chăng nữa, áo dài vẫn luôn là biểu tượng của vẻ đẹp, văn hóa và là niềm tự hào của hàng triệu người con đất Việt.

2. KHĂN

Thiên Quan nghĩa trong Kinh Lễ có câu: “Phàm người mà có thể là người cho đúng nghĩa là nhờ lễ nghĩa, mà mở đầu của lễ nghĩa là ở dung thể được đoan chính, nhan sắc được trang nghiêm, lời nói được cung thuận. Dung thể đoan chính, nhan sắc trang nghiêm, lời nói cung thuận thì sau lễ nghĩa mới đầy đủ, để chính đạo vua tôi, thân đạo cha con, hòa đạo lớn nhỏ. Đạo vua tôi chính, đạo cha con thân, đạo lớn nhỏ hòa rồi sau lễ nghĩa mới lập. Cho nên đội mũ rồi sau trang phục mới đầy đủ, trang phục đầy đủ rồi sau dung thể mới đoan chính, nhan sắc mới trang nghiêm, lời nói mới cung thuận. Cho nên nói rằng lễ đội mũ là mở đầu của lễ, vì thế thánh vương thời cổ rất coi trọng lễ đội mũ”.

Khăn xếp được coi như là một phụ kiện của áo năm thân thời Nguyễn. Khăn xếp là đặc trưng của nhà Nguyễn, cùng với “áo the” làm nên ấn tượng sâu đậm của người Việt ngày nay khi nghĩ đến trang phục truyền thống của cha ông. Tên gọi khăn xếp/ khăn lượt có lẽ xuất phát từ cách vấn khăn, các vòng nối tiếp từng lượt một xếp chồng lên nhau.

Dựa theo những tư liệu tranh ảnh đầu tk 20, khăn xếp thường đi cùng với áo dài ngũ thân tay chẽn với vai trò là bộ tiện phục mặc thường ngày, được sử dụng rộng rãi từ vua quan đến bình dân. Có lúc người xưa mặc áo tấc, đội khăn xếp như một bộ trang phục công vụ hoặc lễ phục dùng trong những nghi lễ tại gia đình và làng xã. Một số hình ảnh để lại cho thấy cũng có khi khăn xếp được đi cùng chiếc áo giao lĩnh.

Khăn lượt thường là màu đen, vì Người xưa quan điểm vào đời "hỗn mang chi sơ, vị phân thiên địa", lúc đó cái đại thể của vũ trụ còn mờ mờ mịt mịt, tăm tối chỉ một màu đen huyền mờ tối vậy. Từ khi phân định trời tròn, đất vuông, người xưa cũng dựa trên sự căn bản đó mà làm ra cái khăn vấn xưa thường lấy màu đen làm trọng, cái màu ban sơ của vũ-trụ, cái màu đó có thể chứa chấp, dung hòa các màu khác của nhân sinh, dáng tròn tượng trưng cho trời cao, có cạnh vuông tượng-trưng cho đất rộng vậy, đó cũng đặng là cái hoài bảo lớn lao "đỉnh thiên lập địa" của bậc tượng-phu, hảo hán.

- Về Khăn chữ Nhất (–): trên cơ sở dụng Nho giáo trong trị quốc, thì không thể không nhắc tới Đức Khổng Tử, Khăn chữ Nhất phát sinh từ câu: «Ngô Đạo Nhất dĩ quán chi» 吾 道 一 以 貫 之 (Luận Ngữ, 4, 15): nghĩa là Đạo ta, có thể thâu tóm bằng chữ Nhất. Như vậy, Nhất đây là thuyết: Thiên địa vạn vật đồng nhất thể. Chữ Nhất (–) chỉ có một nét ngang rất dễ nhớ nên khi lồng vào cái khăn, đội ở trên đầu, để ai ai cũng luôn nhớ, và nếu không trông thấy được ở trên đầu mình, thì cũng nom thấy chữ Nhất ấy trên trán của mọi người xung quanh. Như vậy, ai đã nom thấy chữ Nhất, đã đặt chữ Nhất trên đầu, thì phải nhớ ngay đến bốn chữ Nhất Di Quán Chi| 一 以 貫 之 Đạo chỉ có một mà bao trùm tất cả, thực là cao siêu rộng lớn, vô thỉ vô chung, cả đất với sông núi, cỏ cây, rừng sâu biển rộng, và cả loài Người, khôn ngoan, sáng láng đứng đầu trên vạn vật. Hiểu thấu được cái Đạo bao trùm cả Thiên-Địa-Nhân thì con người sẽ hoàn toàn siêu việt đạt tới Chân-Thiện-Mỹ. Cho nên Vua chúa hay con dân nước Nam đội trên đầu cái khăn chữ Nhất để nhắc nhở từ Quân Vương trở xuống phải theo cái Đạo Nhất Di Quán Chi cao cả ấy, lấy giang sơn làm trọng, lấy dân tộc làm quý, và phải lo cho nước mạnh dân giàu.

- Về Khăn chữ Nhân (人): Nhân là Người, mà đã là Người, vẫn theo nền tảng Nho gia, thì muốn xứng đáng làm con người thì phải có Tam Cương (Quân-Sư-Phụ) và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín). Tiền nhân của chúng ta đội cái khăn chữ Nhân ở ngay giữa trán trên đầu, nơi cao quý nhất của một thân người, là có ý nhắc nhở ai nấy, lúc nào cũng phải xử sự cho ra con người, lấy Tam Cương và Ngũ Thường làm căn bản. Bởi vì, giữa mọi người với nhau cho dù ở tầng lớp nào, trình độ nào thì nếu có Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín, thì làm gì còn có những chuyện hà hiếp bóc lột lẫn nhau, thì làm gì còn có những chuyện lừa thầy phản bạn, bội nghĩa vong ân, trốn chúa lộn chồng, bỏ vợ lìa con. Một xã hội nói riêng mà cả nhân loại nói chung, có Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín, thì hẳn lúc nào cũng an lành vui vẻ, làm gì có chuyện chiến tranh khốc liệt, thế giới sẽ hoàn toàn hạnh phúc và hòa bình.

3. KẾT

Người đời nay ham thích những cái hào nhoáng cho là trẻ trung năng động, rất ít ai xử dụng và còn hiểu đúng cái bộ quốc-phục cho chính thống. Văn hóa xưa, cổ phong nước nhà dần mai một cũng bởi thái độ, suy nghĩ rời xa quá khứ, hiện đại hóa đến mức làm mất dần bản sắc của dân tộc. Hy vọng cùng vớn làn sóng phục dựng có phần tích cực, mạnh mẽ như hiện nay sẽ dần làm sống lại Văn hóa xưa, tái hiện được vẻ đẹp tú lệ của Khăn Áo nước Nam ta, vốn làm nên bản sắc ngàn đời của Cha Ông đã gìn công gắng sức đánh đổi bằng xương máu mới gây cơ dựng nghiệp được.

Nguồn: Cậu Trung